Xin chào bạn ! Tìm kiếm | Các chủ đề | Các thành viên | Đăng nhập | Đăng ký

Quy trình chăm sóc cây cà phê Các tùy chọn
hiep
Đã gửi bài: Tuesday, July 21, 2009 9:43:03 AM
Xếp loại: Thành viên cao cấp
Thuộc nhóm: Thành viên

Ngày đăng ký: 7/14/2009
Số bài gửi: 351
Số điểm: -3,394

Quy trình chăm sóc cây cà phê

Che túp: che túp trong mùa khô, hoặc sau khi trồng bị tiểu hạn để chống nắng, chống gió.

Trồng dặm: sau trồng mới 15-20 ngày, kiểm tra trồng dặm kịp thời các cây chết, cây còi cọc.

Trồng xen, trồng cây phủ đất: Trồng trong thời kỳ kiến thiết cơ bản để phủ đất gồm cây họ đậu, cây phân xanh: trồng cách cây cà phê ít nhất 50-60 cm.

Trồng cây che bóng: Cây che bóng, che gió tạm thời: dùng cây muồng hoa vàng, cốt khi trồng thành băng ở giữa hai hàng cà phê, cách gốc 60-80 cm để che bóng, chắn gió. Thường xuyên phải rong tỉa các cành phủ lên than lá cà phê.

Cây che bóng vĩnh viễn:- Cây che bóng tầng cao: Dùng muồng đen trồng theo khoảng cách 12x18 m hoặc 12x24 m (5 hàng cà phê 1 hàng muồng đen).

- Cây che bóng tầng trung: dùng keo đậu trồng theo khoảng cách 6 x 6 m. Vị trí nào có cây muồng đen thì không trồng keo đậu.

Tưới nước:- Đối với cà phê kiến thiết cơ bản,Tưới gốc: năm đầu 60 lít /gốc, năm thứ 2, 3: 90 lít /gốc cho mỗi lần tưới.Chu kỳ tưới 15 - 20 ngày /lần. Nơi có điều kiện dùng vòi tưới phun mưa để tưới thì lượng nước 400 - 500 m3/lần/ha với chu kỳ như trên.

- Đối với cà phê kinh doanh: bắt đầu tưới khi những lứa hoa đã hình thành mỏ sẻ, cứ 15-20 ngày tưới một lần cho đến đầu mùa mưa mỗi lần tưới 500-600 m3/ha, riêng lần tưới đầu tiên phải tưới đẫm: 700 - 800 m3/ha.

Chú ý: tưới không đủ lượng nước sẻ làm khô cành, thậm chí chết cây.

Tạo hình, sửa cành:- Chiều cao hãm ngọn: khi cây cà phê được 3 tuổi:Cà phê chè: hãm ngọn ở độ cao 1,4 - 1,6 m.Cà phê vối: hãm ngọn ở độ cao 1,6 - 1,8 m.

- Nuôi thêm thân: nuôi thêm 1-2 thân từ các chồi vượt khỏe ở thân chính, dưới gốc, thường xuyên đành chồi vượt trên thân, trên đỉnh nơi đã hãm ngọn

- Sửa cành: cắt bỏ các cành yếu, cành tăm hương, cành sâu bệnh, cành mọc quá gần nhau, tạo cho cây thông thoáng.Cắt bỏ các cành già, cành đã cho quả nhiều vụ, đầu cành chỉ còn 4-5 cặp lá, cắt sâu vào trong tán chừa lại 10-20 cm, để tạo các cành thứ cấp sung sức.

- Nếu bụi cà phê bị khuyết tán thì cần nuôi thêm thân bổ sung từ các chồi vượt.

- Cà phê đã cho quả nhiều năm, các cành quả phía dưới đã già cỗi, thui rụng, tiến hành nuôi thêm tầng hai, cao trên tầng một 40-60 cm để tranh thủ 2-3 vụ quả trước khi cưa đốn phục hồi

Cưa đốn phục hồi: Vườn cà phê kinh doanh đã già cỗi, năng suất kém còn dưới 4 tạ nhân /ha thì cần cưa đốn phục hồi:

- Thời vụ cưa đốn: cuối mùa khô đầu mùa mưa, thông thường tháng 3 - 4. Độ cao cưa : 20 - 25cm. Số thân giữ lại trên gốc: 3-4 thân. Chiều cao hãm ngọn: 1,6 - 1,8m.

Sau khi cưa cần dọn sạch cây, đào các hố khuyết và trồng dặm, gieo cây phân xanh, cây đậu, bón phân theo qui trình. Thường xuyên tỉa các chồi khác, chồi vượt để tập trung dinh dưỡng nuôi thân chính.

Phân bón:Lượng phân bón: Khi chuẩn bị trồng mới bón mỗi hố: 10-20 kg phân hữu cơ + 0,5 lân, trộn phân - lấp hố.Khi trồng mới bón thêm 25g urê + 25g KCl.Định lượng phân bón cho một ha: Với mật độ trồng 1.100 - 1.300 cây/ha:
 

 Năm bónLoại phân bón kg/ha SA Super lân KCl  Năm trồng mới

 Năm thứ I

 Năm thứ II

 Măm thứ III

 Các năm kinh doanh

 Năm cưa đốn phục hồi
130

 450

 600

 1000

 1000

 6000


360

 600

 720

 750

 500
65

 125

 125

 375

 500

 250

- Năm trồng mới: 

+ Lượng phân bón lúc trồng mới không tính vào bảng này.

+ Lượng phân của năm trồng mới bón một lần vào tháng 9-10.

Thời vụ bón:
 
Loại phânTỉ lệ giữa các lần bón Tháng 3-4 Tháng 6-7 Tháng 8-9   Đạm 35%  40%  25% Kali  30% 40% 30%

Chú ý: cần thay đổi chủng loại phân, không nhất thiết chỉ SA và Kali Clorua.

- Phân lân bón một lần cùng với phân hữu cơ, hoặc ép xanh.

- Với những vườn cây bội thu cần bón tăng cường thêm bằng 30% lượng phân cả năm.

Cách bón:

- Phân hữu cơ: đào hố theo hình vành khăn theo mép tán rộng 30cm sâu 30cm cứ hai ba năm bón một lần. Kết hợp với phân lân.

- Phân hóa học: Đạm và Kali trộn đều bón xung quanh gốc theo mép tán lá sâu 5-10 cm bón xong lấp ngay.

Phòng trừ sâu bệnh:

a - Bệnh rỉ sắt hại cà phê (Hemilea vastatris): gây hại chủ yếu trên cà phê chè, xuất hiện quanh năm làm rụng một phần hay toàn bộ lá.

Phòng trừ:         - Boordo: 1%
                         - Anvil 5SC: 20 cc/ bình 8 lít
                         - Tilt 250 ND: 5-7 cc/ 8 lít 
                         - Sumi 8: 8-10 g/ 10 lít nước
                         - Bayleton 25 WP: 10-20 g/ bình 8 lít.

- Phun vào giai đoạn bệnh chớm phát, phun lại khi điều kiện khí hậu thích hợp cho bệnh phát triển. Phun cả hai mặt lá.

- Cắt bỏ cành lá xum xuê, vệ sinh đồng ruộng.

b - Bệnh nấm hồng:

Tác hại trên cành và phần ngọn cây, phát sinh mạnh vào đầu và trong mùa mưa.

Phòng trừ :    - Cắt đốt cành bệnh kịp thời.
                     - Dùng boordo 5% để quét lên vết bệnh.
                     - Kasuran BTN: 24-30 g/8 lít
                     - Validacin 5%: 30 cc/8 lít

c - Bệnh khô cành, khô quả:

Do thiếu dinh dưỡng hoặc do nấm collectotrichum coffeanum gây nên.

Phòng trừ: Tăng cường bón đạm và Kali nhất là các diện tích bội thu. Phun các loại thuốc gốc đồng: boordo: 1%, Kasuran BTN: 25-30 g/8 lít phun 2-3 lần/vụ, ba tuần phun một lần ở giai đoạn bệnh chớm phát.

d - Bệnh lở cổ rễ trong vườn ươm:

Xuất hiện trong mùa mưa, giai đoạn vườn ươm và giai đoạn kiến thiết cơ bản.

Phòng trừ: sử dụng phân đã hoai mục làm đất vào bầu, không để trong bầu quá ướt hoặc quá khô gây vết bệnh ở phần cổ rễ. Cây bệnh nặng nhổ đốt, cây bệnh nhẹ phun:

- Anvil 5SC: 20 cc/ bình 8 lít
- Monceren 25 WP: 20-30 g/ bình 8 lít

Phun vào gốc.

e - Các loại rệp hại cà phê:

Rệp vảy xanh, rệp vảy nâu, rệp sáp, rệp muội đen. Dùng các loại thuốc trừ sâu:

- Supracide 40 EC: 10-20 cc/ bình 8 lít
- Danitol 10 EC: 10-20 cc/ bình 8 lít
- Elsan 60 EC: 15-20 cc/ bình 8 lít
- Bi 58: 20-30 cc/ bình 8 lít

Xịt kỹ mặt dưới lá nơi rệp thường ẩn nấp.

f - Sâu đục thân mình trắng:

Tác hại chủ yếu trên cà phê chè, ở cây từ ba tuổi trở đi.

Tỉ lệ cây bị hại ở vườn cây không che bóng cao hơn.

Phòng trừ: Basudin 50 EC: 20-30 cc/ 8 lít

zodrin 50 EC: 20-30 cc/ 8 lít

Dadan 95 SP.

g - Mọt đục quả:

Gây hại vào thời kỳ già đến chín (từ tháng 9 - tháng 2)

Phòng trừ: cuối vụ thu hái khẩn trương, hái quả khô còn trên cây, vệ sinh đồng ruộng tốt.

Dùng: - Danitol: 20-30 cc/ 8 lít

- Sevin 85 SP 20-30 g/ 8 lít

- Thiodan 35 EC: 20 cc/ 8 lít

- Basudin 50 EC: 16-20 cc/ 8 lít

- Azodrin 50 EC: 16-20 cc/ 8 lít

Phun lúc cà phê mới chín hai lần cách nhau hai tuần.

h - Mọt đục cành:

Xuất hiện thời kỳ kiến thiết cơ bản, tháng 3-4-5

Phòng trừ: Cắt đốt cành bị mọt, cắt xuống phía dưới lỗ đục 10cm.

Dùng: - Thiodan 35 EC: 20 cc/ 8 lít

- Azodrin 50 EC: 16-20 cc/ 8 lít
- Basudin 50 EC: 16-20 cc/ 8 lít
- Danitol: 30 cc/ 8 lít
tranhuycuong2004
Đã gửi bài: Friday, December 25, 2009 1:35:39 AM
Xếp loại: Thành viên cao cấp
Thuộc nhóm: Thành viên

Ngày đăng ký: 12/25/2009
Số bài gửi: 0
Số điểm: 6
Location: hcm
Giới thiệu khả năng sử dụng PMAS1 1. Mở đầu Polymer siêu hấp thụ nước đã được nghiên cứu từ lâu, và hiện nay được dùng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như giữ vệ sinh (tã lót thấm của trẻ em, băng vệ sinh phụ nữ), cải tạo đất (trồng cây, nông nghiệp và làm vườn), tác nhân làm đặc cho keo dán, chất giữ bụi, chống thấm, thấm mồ hôi, đệm cho bệnh nhân, chất gel cho các tác nhân thơm, cho cao su trương nở, cho quá trình đề hydrat hoá trong xây dựng cơ bản, tác nhân tích nhiệt, chất tẩy mùi... tuy nhiên người ta thấy rằng, polymer siêu hấp thụ nước còn triển vọng rất lớn trong tương lai. 2. Vai trò của nước đối với thực vật Nước là cấu thành chủ yếu của các loài thực vật. Nó thực hiện một vài chức năng quan trọng để nuôi sống cây. Khi nước kết hợp với CO2 bằng quang hợp tạo thành hydrocacbon, là cơ sở cho các chất hữu cơ. Nó làm mát các bộ phận phía trên của thực vật cũng như được xem như chất trung gian chuyển các chất dinh dưỡng và nguyên tố có trong đất lên cây. ở trong đất nước luôn bị mất đi bởi quá trình thoát hơi nước của thực vật. Nước đến thực vật bằng các thẩm thấu dọc theo không gian tồn tại giữa đất và không khí. Để tránh sự mất cân bằng, những lỗ thở của cây mở ra và đóng lại làm tăng hoặc giảm sự thoát hơi nước. Các lỗ thở này đóng mở được khi có sự thay đổi áp lực làm sưng tế bào, chúng cấu tạo thành các lỗ xốp. Không kể điều kiện khí hậu, rõ ràng đất khó có thể đạt đủ yêu cầu cung cấp nước cho cây. Điều này dẫn đến một trạng thái được gọi là sự khủng hoảng thiếu nước (hydric stress), bình thường cây trồng thoát hơi nước và cần nước cho tới khi các lỗ xốp đóng lại. Nếu không đáp ứng đủ nước, cây thiếu nước sẽ khô héo, đến một thời điểm nhất định, việc thêm nước cho đất sẽ đạt hiệu quả cho cây. Tuy nhiên, một khi sự khủng hoảng thiếu nước đã đi quá xa thì cây trồng không thể phục hồi lại được. Cũng có khi chỉ cần khủng hoảng thiếu nước tồn tại trong thời gian ngắn đã đủ ngăn cản cây trồng đạt khả năng phát triển tối đa, nếu như khủng hoảng lặp lại vài lần thì sự phát triển của cây bị tổn thất đáng kể. PMAS-1 mở ra một con đường làm ổn định việc cung cấp nước cho cây, giảm đến mức độ nhỏ nhất hiện tượng khủng hoảng do thiếu nước. 3. Miêu tả sản phẩm PMAS-1 là sản phẩm được tạo thành từ quá trình ghép acrylic vào tinh bột, nó hoạt động như miếng bọt xốp, tuy nhiên bọt xốp vẫn giữ nguyên kích thước khi có cũng như khi không có nước. PMAS-1 trương và co lại khi nó hydrat và đề hydrat hoá. Nước được giữ ổn định bởi P MAS-1và không thể bị tách ra bởi áp lực đến 5 bar 4. Cơ chế của sự hút nước Mỗi phân tử P MAS-1 gồm các hàng song song của những nhóm -1,6-glicozit với nhiều cầu nối và mạch nhánh acrylic. Khi có sự tiếp xúc của nước với hàng phân tử, một lực tĩnh điện yếu giữa các hàng được tạo thành để đẩy 2 cực từ tích điện đồng nhất tách rời nhau và kéo các hàng xa nhau dẫn đến sự trương phồng lớn của PMAS-1. Nước cũng có thể tách khỏi PMAS-1 bởi sự bay hơi hoặc hấp phụ trực tiếp từ rễ, chu trình hydrat hoá và đề hydrat hoá có thể diễn ra liên tục nhiều lần. 5. Tính chất cơ bản của PMAS-1 PMAS-1 là sản phẩm biến tính của tinh bột với acrylic, nó có khả năng đặc biệt trong việc hấp phụ nước, nước muối sinh lý, nước tiểu, máu và các dung dịch khác. Khả năng hấp phụ và tính chất của PMAS-1 thể hiện trong bảng sau: - Đặc điểm biên ngoài: màu trắng ngà - Khả năng hấp phụ (g/g): + nước cất: 400 + nước muối sinh lý: 62 + tỷ trọng (g/cm3): 0,6 - Tốc độ hấp phụ cân bằng ở 25C (phút): + nước cất: 30 + nước muối sinh lý: 35 Độ bền vững của PMAS-1 đối với vi khuẩn có thể khác nhau, và phụ thuộc vào một số yếu tố, trong điều kiện thoáng khí thì chỉ có một sự phân huỷ nhỏ xảy ra, PMAS-1 hy vọng hoạt động tốt trong 18 tháng. Trong điều kiện yếm khí PMAS-1 có thể bị phá huỷ bởi các ion sắt sinh ra trong quá trình hoạt động của vi khuẩn khử sunfat. 6. Khả năng ứng dụng trong nông nghiệp Những năm gần đây, việc sử dụng polymer có khả năng trương nở đặc biệt cho nông nghiệp đã tăng lên rất nhiều, nhìn chung các kết quả nghiên cứu khẳng định polymer trương nở đặc biệt đem lại nhiều ích lợi khi sử dụng thí dụ làm giảm tỷ lệ chết của thực vật gần 100%, giảm sự chăm sóc thực vật đến 80%. Nhiều nhà trồng trọt phát hiện rằng sự tử vong của cây khi chuyên chở có thể bị loại trừ và vụ mùa sẽ thu hoạch trước thời hạn 20%. Cây trồng phát triển tăng lên đáng kể, việc chuẩn bị mùa màng thuận lợi và sự lãng phí nước giảm rõ rệt. 6.1. Cải thiện đất trồng Đối với đất chứa sét nặng, sự phát triển của cây trồng có thể bị hạn chế bởi thiếu oxy, thừa CO2 hoặc quá nhiều nước, trái lại đất có cấu trúc nhẹ cho phép lưu thông tốt, đầy đủ và duy trì mức nước thích hợp. P MAS-1 có khả năng cải thiện cấu trúc và các tính chất đặc thù của 2 loại đất trên. Đối với đất nặng, các hạt PMAS-1 sẽ làm phồng lên làm gẫy một phần cấu trúc đất, điều đó cho phép tăng quá trình lưu thông và thoát nước. Đối với đất cát PMAS-1 cho khả năng giữ nước của đất tăng nhưng P MAS-1 cũng có thể phồng lên cực đại cho phép thoát nước một cách nhanh chóng. Sự có mặt của PMAS-1 còn giúp cho đất cát kết đóng lại với nhau, nhưng không tạo sự ứ đọng nước dẫn đến cây trồng bị chết. Tóm lại đối với 2 loại đất trên PMAS-1 cải thiện sự thoát, lưu thông và giữ nước hợp lý tất cả các điều này có ích lợi lớn cho việc trồng cây. 6.2. Sử dụng như là chất phụ gia trong việc trồng cây trong chậu. Để chuẩn bị tốt đất cho việc trồng cây trong chậu, cần phải quan tâm 2 vấn đề chủ yếu: Thứ nhất, dung tích đất nhỏ hơn và không sâu bằng vùng đất hở. Điều này dẫn đến nguồn dự trữ nước và chất dinh dưỡng dùng cho cây bị giảm. Để đền bù cho việc thất thoát thông qua tưới nước thường xuyên còn cần cung cấp một lượng phân bón và nước nhằm đạt được mức độ tăng trưởng tối ưu nhất. Thứ hai, trong vùng đất hở, các rễ cây có thể phát triển tự do theo hướng của nguồn nước. Trong khi đó cây trồng trong chậu không có quyền lựa chọn như vậy, rễ chỉ có thể mọc xung quanh chậu, điều này làm giảm toàn bộ sự thông thoáng và thoát nước. Việc sử dụng PMAS-1 có thể giải quyết được các vấn đề trên thực hiện bằng cách trộn 1 kg chất polyme trương nở đặc biệt với 1 m3 đất sau đó đưa vào chậu. 6.3. Chuyển chỗ cây trồng Cây hoặc khóm cây thường được chuyển chỗ trồng cùng với cấu trúc rễ khô, mà yêu cầu cần tưới nước để tăng cường cho hệ thống rễ cây được thiết lập lại. Tỷ lệ sử dụng PMAS-1 bình thường cho việc trồng chuyển là1 - 1,5 kg/m3. Việc sử dụng có thể tiến hành như sau: đưa một lượng PMAS-1 tính trước vào đáy lỗ khi đã trộn kỹ cùng với đất. Đổ nước vào lỗ đó để P MAS-1 ngậm nước. Đặt cây vào đó và lấp đất như bình thường. Tưới đủ nước cho đầy các lỗ hổng của đất và P MAS-1 ngậm đầy nước. Điều quan trọng cần lưu ý P MAS-1 sẽ phồng lên khi nó ngậm nước lúc đó cây trồng có thể bị bật ra khỏi mặt đất nếu ta dùng quá nhiều P MAS-1. P MAS-1 thích hợp với tất cả các loại cây và khóm cây kết quả đã đạt được rất khả quan khi trồng cao su non, cay canh, bonsai, cam, quýt, cây hoa quả nhiệt đới, cà phê... 6.4. Vận chuyển cây trồng đi xa Cùng với thị trường hiện đại, việc chuyển cây đến một nơi rất xa trở nên thông dụng, suốt quá trình vận chuyển dài, chắc chắn sẽ nảy sinh vấn đề phải cung cấp đầy đủ nước cho cây trồng. PMAS-1 có thể dự trữ nước đến khoảng 1 tháng mà không bị đổ hoặc tràn. Điều này đạt được khi cho 2,5 cm3 PMAS-1 ngậm nước, nó tương đối cứng (ví dụ: cho 50 gam PMAS-1 vào 16 lít nước), trong một hộp cứng chứa nước. Chuyển cây từ chậu và đặt chùm rễ tiếp xúc với gel, để ổn định hơn người ta buộc xung quanh chùm rễ một lớp các tông hay vật liệu xốp. Điều đó thuận lợi trong việc di chuyển và tách cây sâu. Các rễ cây còn có thể vận chuyển trong vòng 14 ngày nếu rễ đặt trong gel. 6.5. Sử dụng như một lớp giữ ẩm và làm ẩm cho đất PMas 1 có thể được dùng như là lớp giữ ẩm xung quanh cây và khóm cây, như vậy nó làm giảm sự mất nước bề mặt và cải thiện khả năng sử dụng nước đối với hệ thống rễ cây nông. Kỹ thuật này làm giảm sự bay hơi nước tới 90% và thích hợp với tất cả các loại cây và khóm cây có hệ thống rễ nông. Lấy một lớp đất xung quanh gốc cây và rải PMAS-1 ngậm nước vào vùng đó. Sử dụng một lớp gel cứng được mô tả ở trên (50 gam PMAS-1 cho 16 lít nước), đậy lớp gel bằng một lớp đất và đá. Tầng đất và đá này sẽ bảo vệ P MAS-1 khỏi bị phá huỷ bởi ánh sáng mặt trời nếu sử dụng phân bón nó được đặt dưới lớp gel. còn được sử dụng làm ẩm đất ở nơi gieo hạt cho nảy mầm sớm, giảm sự tưới nước và chăm sóc cho mầm cây, đặc biệt PMAS-1 là kho dự trữ nước cho cây ở vùng mà sự thiếu nước xảy ra thường xuyên. 6.6. Sử dụng cho sản xuất theo thời vụ Việc sử dụng PMAS-1 trong sản xuất theo vụ cho phép trồng trọt tưới nước ít nhất ở những vùng hay bị khô hạn, ở những vùng này sự mất nước do chảy đi và bay hơi rất cao. Đối với loại đất này, thành phần PMAS-1 thường là 25 kg/ha phụ thuộc vào điều kiện đất và nước. Rắc P MAS-1 vào đất, xới đất cho vào vùng rễ cây, PMAS-1 sẽ ngậm cả nước mưa tự nhiên và nước tưới, tăng khả năng giữ nước cho đất. 6.7. Sử dụng trong quá trình tưới nước PMAS-1 có thể dùng để giảm lượng nước trong hệ thống tưới tiêu, ở đó nước bị mất do khả năng duy trì độ ẩm của đất kém hay tỷ lệ bay hơi nước cao, thành phần PMAS-1 cho đất loại này là 25kg/ha, do PMAS-1 đặt cùng hệ thống dẫn nước nên khi tưới ra ruộng chất sẽ phân bố đồng đều và đem lại hiệu quả giữ nước tốt cho cây. 6.8. Sử dụng phân bón PMAS-1 trộn với phân bón đậm đặc, có thể sử dụng nó để phân phát từ từ cho quá trình nuôi cây. Các chất dinh dưỡng được thu hút bởi PMAS-1 hydrat hoá sẽ nhả dần cho cây trồng. Suốt trong quá trình mưa nhiều chất dinh dưỡng cho cây được giữ lại trong polyme và không bị thất thoát. Như vậy lượng phân bón bị mất đi ít hơn, tiết kiệm cả về môi trường và giá thành sản phẩm. TÓM TẮT HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG Tóm tắt hướng dẫn sử dụng polymer Mas1 siêu hấp thụ nước cho một số loại cây - Tỷ lệ polymer Mas1siêu hấp thụ nước nên sử dụng đối với một số loại cây: + Ngô, lạc, đậu tương: 20-25kg/ha. + Chè: 18-25kg/ha đối với chè trồng mới và 20-40kg/ha đối với chè thu hoạch (tuỳ theo loại đất) + Cà phê: 5g/cây đối với cà phê trồng mới và 3-7g/cây đối với cà phê thu hoạch + Cỏ voi (cỏ sữa): 10kg/ha + Mía: 30kg/ha + Bông: 30kg/ha (chống hạn cuối vụ cho bông vụ mưa trong điều kiện gieo muộn). + Thuốc lá: 10-20kg/ha đối với quá trình gieo hạt trong vườn ươm và 25kg/ha đối với giai đoạn canh tác. + Keo lá chàm, hồ tiêu: 10-12g/ hố. + Cây cảnh trong chậu: khoảng 5-7g/chậu cây - Qui trình sử dụng polymer Mas 1 siêu hấp thụ nước cho các đối tượng cây trồng + Đối với cây trồng mới: Polyme siêu hấp thụ nước được bổ sung sau giai đoạn làm đất, trộn với phân bón sau đó đảo đều với lớp đất mặt. Sau khi đặt cây giống và bón phân, tưới đẫm nước. + Đối với cây trồng đang thu hoạch: sới đất cho tơi xốp, sâu 10cm ở gốc, bón polyme siêu hấp thụ nước, đảo đều với đất rồi tưới đẫm nước. + Đối với cây ăn quả, cây trồng rừng: Bổ sung pMas1 siêu hấp thụ nước vào từng hố, đặt cây con, lấp đất và tưới đẫm nước. + Đối với cây cảnh: Bổ sung polymer Mas1 siêu hấp thụ nước vào lớp đất mặt sau đó đảo đều và tưới đẫm nước. Chú ý: trong bất kỳ trường hợp nào, sau khi bổ sung polyme siêu hấp thụ nước phải tưới đẫm nước. Nguoi liên lac: Huy Cuong/0918319346 Website tham khảo: http://www.123mua.com.vn/xem?sp=GeKTTHNMGd
htv
Đã gửi bài: Sunday, April 18, 2010 6:02:37 PM
Xếp loại: Thành viên cao cấp
Thuộc nhóm: Thành viên

Ngày đăng ký: 4/18/2010
Số bài gửi: 1
Số điểm: 9

Giới thiệu khả năng sử dụng PMAS1

1. Mở đầu Polymer siêu hấp thụ nước đã được nghiên cứu từ lâu, và hiện nay được dùng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như giữ vệ sinh (tã lót thấm của trẻ em, băng vệ sinh phụ nữ), cải tạo đất (trồng cây, nông nghiệp và làm vườn), tác nhân làm đặc cho keo dán, chất giữ bụi, chống thấm, thấm mồ hôi, đệm cho bệnh nhân, chất gel cho các tác nhân thơm, cho cao su trương nở, cho quá trình đề hydrat hoá trong xây dựng cơ bản, tác nhân tích nhiệt, chất tẩy mùi... tuy nhiên người ta thấy rằng, polymer siêu hấp thụ nước còn triển vọng rất lớn trong tương lai.

2. Vai trò của nước đối với thực vật Nước là cấu thành chủ yếu của các loài thực vật. Nó thực hiện một vài chức năng quan trọng để nuôi sống cây. Khi nước kết hợp với CO2 bằng quang hợp tạo thành hydrocacbon, là cơ sở cho các chất hữu cơ. Nó làm mát các bộ phận phía trên của thực vật cũng như được xem như chất trung gian chuyển các chất dinh dưỡng và nguyên tố có trong đất lên cây. ở trong đất nước luôn bị mất đi bởi quá trình thoát hơi nước của thực vật. Nước đến thực vật bằng các thẩm thấu dọc theo không gian tồn tại giữa đất và không khí. Để tránh sự mất cân bằng, những lỗ thở của cây mở ra và đóng lại làm tăng hoặc giảm sự thoát hơi nước. Các lỗ thở này đóng mở được khi có sự thay đổi áp lực làm sưng tế bào, chúng cấu tạo thành các lỗ xốp. Không kể điều kiện khí hậu, rõ ràng đất khó có thể đạt đủ yêu cầu cung cấp nước cho cây. Điều này dẫn đến một trạng thái được gọi là sự khủng hoảng thiếu nước (hydric stress), bình thường cây trồng thoát hơi nước và cần nước cho tới khi các lỗ xốp đóng lại. Nếu không đáp ứng đủ nước, cây thiếu nước sẽ khô héo, đến một thời điểm nhất định, việc thêm nước cho đất sẽ đạt hiệu quả cho cây. Tuy nhiên, một khi sự khủng hoảng thiếu nước đã đi quá xa thì cây trồng không thể phục hồi lại được. Cũng có khi chỉ cần khủng hoảng thiếu nước tồn tại trong thời gian ngắn đã đủ ngăn cản cây trồng đạt khả năng phát triển tối đa, nếu như khủng hoảng lặp lại vài lần thì sự phát triển của cây bị tổn thất đáng kể. PMAS-1 mở ra một con đường làm ổn định việc cung cấp nước cho cây, giảm đến mức độ nhỏ nhất hiện tượng khủng hoảng do thiếu nước.

3. Miêu tả sản phẩm PMAS-1 là sản phẩm được tạo thành từ quá trình ghép acrylic vào tinh bột, nó hoạt động như miếng bọt xốp, tuy nhiên bọt xốp vẫn giữ nguyên kích thước khi có cũng như khi không có nước. PMAS-1 trương và co lại khi nó hydrat và đề hydrat hoá. Nước được giữ ổn định bởi P MAS-1và không thể bị tách ra bởi áp lực đến 5 bar

4. Cơ chế của sự hút nước Mỗi phân tử P MAS-1 gồm các hàng song song của những nhóm -1,6-glicozit với nhiều cầu nối và mạch nhánh acrylic. Khi có sự tiếp xúc của nước với hàng phân tử, một lực tĩnh điện yếu giữa các hàng được tạo thành để đẩy 2 cực từ tích điện đồng nhất tách rời nhau và kéo các hàng xa nhau dẫn đến sự trương phồng lớn của PMAS-1. Nước cũng có thể tách khỏi PMAS-1 bởi sự bay hơi hoặc hấp phụ trực tiếp từ rễ, chu trình hydrat hoá và đề hydrat hoá có thể diễn ra liên tục nhiều lần.

5. Tính chất cơ bản của PMAS-1 PMAS-1 là sản phẩm biến tính của tinh bột với acrylic, nó có khả năng đặc biệt trong việc hấp phụ nước, nước muối sinh lý, nước tiểu, máu và các dung dịch khác. Khả năng hấp phụ và tính chất của PMAS-1 thể hiện trong bảng sau:

- Đặc điểm biên ngoài: màu trắng ngà

- Khả năng hấp phụ (g/g):

+ nước cất: 400

+ nước muối sinh lý: 62

+ tỷ trọng (g/cm3): 0,6

- Tốc độ hấp phụ cân bằng ở 25C (phút):

+ nước cất: 30

+ nước muối sinh lý: 35 Độ bền vững của PMAS-1 đối với vi khuẩn có thể khác nhau, và phụ thuộc vào một số yếu tố, trong điều kiện thoáng khí thì chỉ có một sự phân huỷ nhỏ xảy ra, PMAS-1 hy vọng hoạt động tốt trong 18 tháng. Trong điều kiện yếm khí PMAS-1 có thể bị phá huỷ bởi các ion sắt sinh ra trong quá trình hoạt động của vi khuẩn khử sunfat.

6. Khả năng ứng dụng trong nông nghiệp Những năm gần đây, việc sử dụng polymer có khả năng trương nở đặc biệt cho nông nghiệp đã tăng lên rất nhiều, nhìn chung các kết quả nghiên cứu khẳng định polymer trương nở đặc biệt đem lại nhiều ích lợi khi sử dụng thí dụ làm giảm tỷ lệ chết của thực vật gần 100%, giảm sự chăm sóc thực vật đến 80%. Nhiều nhà trồng trọt phát hiện rằng sự tử vong của cây khi chuyên chở có thể bị loại trừ và vụ mùa sẽ thu hoạch trước thời hạn 20%. Cây trồng phát triển tăng lên đáng kể, việc chuẩn bị mùa màng thuận lợi và sự lãng phí nước giảm rõ rệt.

6.1. Cải thiện đất trồng Đối với đất chứa sét nặng, sự phát triển của cây trồng có thể bị hạn chế bởi thiếu oxy, thừa CO2 hoặc quá nhiều nước, trái lại đất có cấu trúc nhẹ cho phép lưu thông tốt, đầy đủ và duy trì mức nước thích hợp. P MAS-1 có khả năng cải thiện cấu trúc và các tính chất đặc thù của 2 loại đất trên. Đối với đất nặng, các hạt PMAS-1 sẽ làm phồng lên làm gẫy một phần cấu trúc đất, điều đó cho phép tăng quá trình lưu thông và thoát nước. Đối với đất cát PMAS-1 cho khả năng giữ nước của đất tăng nhưng P MAS-1 cũng có thể phồng lên cực đại cho phép thoát nước một cách nhanh chóng. Sự có mặt của PMAS-1 còn giúp cho đất cát kết đóng lại với nhau, nhưng không tạo sự ứ đọng nước dẫn đến cây trồng bị chết. Tóm lại đối với 2 loại đất trên PMAS-1 cải thiện sự thoát, lưu thông và giữ nước hợp lý tất cả các điều này có ích lợi lớn cho việc trồng cây.

6.2. Sử dụng như là chất phụ gia trong việc trồng cây trong chậu. Để chuẩn bị tốt đất cho việc trồng cây trong chậu, cần phải quan tâm 2 vấn đề chủ yếu: Thứ nhất, dung tích đất nhỏ hơn và không sâu bằng vùng đất hở. Điều này dẫn đến nguồn dự trữ nước và chất dinh dưỡng dùng cho cây bị giảm. Để đền bù cho việc thất thoát thông qua tưới nước thường xuyên còn cần cung cấp một lượng phân bón và nước nhằm đạt được mức độ tăng trưởng tối ưu nhất. Thứ hai, trong vùng đất hở, các rễ cây có thể phát triển tự do theo hướng của nguồn nước. Trong khi đó cây trồng trong chậu không có quyền lựa chọn như vậy, rễ chỉ có thể mọc xung quanh chậu, điều này làm giảm toàn bộ sự thông thoáng và thoát nước. Việc sử dụng PMAS-1 có thể giải quyết được các vấn đề trên thực hiện bằng cách trộn 1 kg chất polyme trương nở đặc biệt với 1 m3 đất sau đó đưa vào chậu.

6.3. Chuyển chỗ cây trồng Cây hoặc khóm cây thường được chuyển chỗ trồng cùng với cấu trúc rễ khô, mà yêu cầu cần tưới nước để tăng cường cho hệ thống rễ cây được thiết lập lại. Tỷ lệ sử dụng PMAS-1 bình thường cho việc trồng chuyển là1 - 1,5 kg/m3. Việc sử dụng có thể tiến hành như sau: đưa một lượng PMAS-1 tính trước vào đáy lỗ khi đã trộn kỹ cùng với đất. Đổ nước vào lỗ đó để P MAS-1 ngậm nước. Đặt cây vào đó và lấp đất như bình thường. Tưới đủ nước cho đầy các lỗ hổng của đất và P MAS-1 ngậm đầy nước. Điều quan trọng cần lưu ý P MAS-1 sẽ phồng lên khi nó ngậm nước lúc đó cây trồng có thể bị bật ra khỏi mặt đất nếu ta dùng quá nhiều P MAS-1. P MAS-1 thích hợp với tất cả các loại cây và khóm cây kết quả đã đạt được rất khả quan khi trồng cao su non, cay canh, bonsai, cam, quýt, cây hoa quả nhiệt đới, cà phê...

6.4. Vận chuyển cây trồng đi xa Cùng với thị trường hiện đại, việc chuyển cây đến một nơi rất xa trở nên thông dụng, suốt quá trình vận chuyển dài, chắc chắn sẽ nảy sinh vấn đề phải cung cấp đầy đủ nước cho cây trồng. PMAS-1 có thể dự trữ nước đến khoảng 1 tháng mà không bị đổ hoặc tràn. Điều này đạt được khi cho 2,5 cm3 PMAS-1 ngậm nước, nó tương đối cứng (ví dụ: cho 50 gam PMAS-1 vào 16 lít nước), trong một hộp cứng chứa nước. Chuyển cây từ chậu và đặt chùm rễ tiếp xúc với gel, để ổn định hơn người ta buộc xung quanh chùm rễ một lớp các tông hay vật liệu xốp. Điều đó thuận lợi trong việc di chuyển và tách cây sâu. Các rễ cây còn có thể vận chuyển trong vòng 14 ngày nếu rễ đặt trong gel.

6.5. Sử dụng như một lớp giữ ẩm và làm ẩm cho đất PMas 1 có thể được dùng như là lớp giữ ẩm xung quanh cây và khóm cây, như vậy nó làm giảm sự mất nước bề mặt và cải thiện khả năng sử dụng nước đối với hệ thống rễ cây nông. Kỹ thuật này làm giảm sự bay hơi nước tới 90% và thích hợp với tất cả các loại cây và khóm cây có hệ thống rễ nông. Lấy một lớp đất xung quanh gốc cây và rải PMAS-1 ngậm nước vào vùng đó. Sử dụng một lớp gel cứng được mô tả ở trên (50 gam PMAS-1 cho 16 lít nước), đậy lớp gel bằng một lớp đất và đá. Tầng đất và đá này sẽ bảo vệ P MAS-1 khỏi bị phá huỷ bởi ánh sáng mặt trời nếu sử dụng phân bón nó được đặt dưới lớp gel. còn được sử dụng làm ẩm đất ở nơi gieo hạt cho nảy mầm sớm, giảm sự tưới nước và chăm sóc cho mầm cây, đặc biệt PMAS-1 là kho dự trữ nước cho cây ở vùng mà sự thiếu nước xảy ra thường xuyên.

6.6. Sử dụng cho sản xuất theo thời vụ Việc sử dụng PMAS-1 trong sản xuất theo vụ cho phép trồng trọt tưới nước ít nhất ở những vùng hay bị khô hạn, ở những vùng này sự mất nước do chảy đi và bay hơi rất cao. Đối với loại đất này, thành phần PMAS-1 thường là 25 kg/ha phụ thuộc vào điều kiện đất và nước. Rắc P MAS-1 vào đất, xới đất cho vào vùng rễ cây, PMAS-1 sẽ ngậm cả nước mưa tự nhiên và nước tưới, tăng khả năng giữ nước cho đất.

6.7. Sử dụng trong quá trình tưới nước PMAS-1 có thể dùng để giảm lượng nước trong hệ thống tưới tiêu, ở đó nước bị mất do khả năng duy trì độ ẩm của đất kém hay tỷ lệ bay hơi nước cao, thành phần PMAS-1 cho đất loại này là 25kg/ha, do PMAS-1 đặt cùng hệ thống dẫn nước nên khi tưới ra ruộng chất sẽ phân bố đồng đều và đem lại hiệu quả giữ nước tốt cho cây.

6.8. Sử dụng phân bón PMAS-1 trộn với phân bón đậm đặc, có thể sử dụng nó để phân phát từ từ cho quá trình nuôi cây. Các chất dinh dưỡng được thu hút bởi PMAS-1 hydrat hoá sẽ nhả dần cho cây trồng. Suốt trong quá trình mưa nhiều chất dinh dưỡng cho cây được giữ lại trong polyme và không bị thất thoát. Như vậy lượng phân bón bị mất đi ít hơn, tiết kiệm cả về môi trường và giá thành sản phẩm.

TÓM TẮT HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG Tóm tắt hướng dẫn sử dụng polymer Mas1 siêu hấp thụ nước cho một số loại cây

 - Tỷ lệ polymer Mas1siêu hấp thụ nước nên sử dụng đối với một số loại cây:

+ Ngô, lạc, đậu tương: 20-25kg/ha.

+ Chè: 18-25kg/ha đối với chè trồng mới và 20-40kg/ha đối với chè thu hoạch (tuỳ theo loại đất)

+ Cà phê: 5g/cây đối với cà phê trồng mới và 3-7g/cây đối với cà phê thu hoạch

+ Cỏ voi (cỏ sữa): 10kg/ha

+ Mía: 30kg/ha

+ Bông: 30kg/ha (chống hạn cuối vụ cho bông vụ mưa trong điều kiện gieo muộn).

+ Thuốc lá: 10-20kg/ha đối với quá trình gieo hạt trong vườn ươm và 25kg/ha đối với giai đoạn canh tác.

+ Keo lá chàm, hồ tiêu: 10-12g/ hố.

+ Cây cảnh trong chậu: khoảng 5-7g/chậu cây

 - Qui trình sử dụng polymer Mas 1 siêu hấp thụ nước cho các đối tượng cây trồng

+ Đối với cây trồng mới: Polyme siêu hấp thụ nước được bổ sung sau giai đoạn làm đất, trộn với phân bón sau đó đảo đều với lớp đất mặt. Sau khi đặt cây giống và bón phân, tưới đẫm nước.

+ Đối với cây trồng đang thu hoạch: sới đất cho tơi xốp, sâu 10cm ở gốc, bón polyme siêu hấp thụ nước, đảo đều với đất rồi tưới đẫm nước.

+ Đối với cây ăn quả, cây trồng rừng: Bổ sung pMas1 siêu hấp thụ nước vào từng hố, đặt cây con, lấp đất và tưới đẫm nước.

+ Đối với cây cảnh: Bổ sung polymer Mas1 siêu hấp thụ nước vào lớp đất mặt sau đó đảo đều và tưới đẫm nước. Chú ý: trong bất kỳ trường hợp nào, sau khi bổ sung polyme siêu hấp thụ nước phải tưới đẫm nước.

Nguoi liên lac: Huy Cuong/0918319346 Website tham khảo: http://www.123mua.com.vn/xem?sp=GeKTTHNMGd [/quote]

Bài viết hay lắm nhưng chữ nhỏ khó đọc quá



short prom dresses
fishnet hosiery
Users browsing this topic
Guestnew0


Bạn không thể gửi các chủ đề mới trong diễn đàn này.
Bạn không thể trả lời các chủ đề trong diễn đàn này.
Bạn không thể xóa các bài bạn gửi trong diễn đàn này.
Bạn không thể sửa các bài bạn gửi trong diễn đàn này.
Bạn không thể thăm dò ý kiến trong diễn đàn này.
Bạn không thể biểu quyết các thăm dò ý kiến trong diễn đàn này.

Trang chủ diễn đàn RSS : RSS

YAFPro Theme Created by Jaben Cargman (Tiny Gecko)

Copyright © 2003-2006 Yet Another Forum.net. All rights reserved.
Thời gian hiển thị trang là 2.134 giây.