Kỹ thuật trồng đậu cô-ve leo
Đậu cô-ve leo có 2
loài phụ, được phân biệt bằng màu sắc hạt: hạt màu cà phê sữa (đậu bở) và hạt
trắng (đậu trạch).
Đậu cô-ve leo thuộc
nhóm cây chịu lạnh. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng, phát triển và tạo quả
18o - 22oC. Tuy nhiên, ở nhiệt độ thấp hơn (8o - 10oC) cây vẫn chưa bị tổn
thương như đậu tương hoặc đậu vàng.
Đậu cô-ve leo là
cây ưa ánh sáng, do vậy rất cần giàn để leo. Cây có bộ rễ lớn ăn sâu nên khả
năng chịu hạn khá.
1.
Thời vụ.
Đậu cô-ve leo có
thể trồng 2 vụ trong năm:
- Vụ Xuân: gieo hạt
từ tháng giêng đến tháng 3.
- Vụ Thu: gieo hạt
vào tháng 9 - 10.
2.
Làm đất, bón phân và gieo hạt.
Sau khi làm đất lên
luống với kích thước: rộng 1m, cao 0,2m, rãnh luống 0,2 - 0,25m. Mỗi hecta bón
lót 10 - 15 tấn phân chuồng hoai mục, 150 kg supe lân và 50 kg kali. Gieo 2 hàng
trên luống và khoảng cách hàng 60cm, khoảng cách hạt 12 - 15cm. Lượng hạt gieo
60 kg/ha (2kg/sào). Gieo xong phủ một lớp đất bột dầy 1 cm. Do cấu tạo vỏ hạt
mỏng, khả năng hút trương nhanh nên không vội tưới. Sau 1-2 ngày dùng ô-doa
tưới nhẹ mặt luống.
3.
Chăm sóc.
Do đậu cô-ve leo có
bộ lá lớn, hệ số thoát hơi nước cao nên phải thường xuyên giữ ẩm đất, nhất là
thời kỳ cây ra hoa, tạo quả. Thời điểm này cần độ ẩm đất thường xuyên 70%. Nhu
cầu phân bón cho đậu không cao, nhưng ngoài lượng phân lót, mỗi ha có thể bón
thúc thêm 30kg đạm urê và 30kg kali vào 2 thời điểm: cây ra tua cuốn và lúc rộ
hoa.
Khi cây có tua
cuốn, cần làm cỏ, xới vun và bón thúc; sau đó cắm giàn ngay cho cây leo. Mỗi
hecta cần 50.000 cây dóc cắm (mỗi sào 1.700 cây). Khi cây có hoa tiến hành tỉa
dần lá chét, những lá bị bệnh, những khoảng giữa có mật độ lá đậm đặc để tạo sự
thông thoáng cho cây, tăng khả năng tạo quả.
4.
Phòng trừ sâu bệnh.
Đây là nội dung
quan trọng nhất trong quá trình trồng trọt đậu cô-ve theo quy trình sạch. Các
biện pháp này cũng áp dụng với đậu đũa, đậu vàng, v.v....
- Sâu xám hay xuất
hiện ở thời kỳ cây còn non. Diệt trừ bằng biện pháp thủ công (bắt sâu bằng tay).
Với sâu khoang, ngắt lá có ổ trứng và ổ sâu non tuổi 1-2.
- Sâu đục quả là
đối tượng phòng trừ chính. Cần thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện kịp
thời, khi có 10% quả non bị hại phải trừ ngay. Cho đến nay, đối tượng này vẫn
sử dụng thuốc hoá học. Có thể sử dụng một trong các loại thuốc sau: Pegasus 250
SC, Sherpa 25 EC, Sumidicin 20 EC nồng độ 0,1% (1 lít thuốc/ha). Số lần phun phụ
thuộc vào mật độ của sâu, tối đa không quá 4 lần/vụ. Sau phun phải ít nhất 3
ngày mới được thu quả.
- Với bệnh lở cổ rễ
phun Validacin nồng độ 0,15% (1,5 lít/ha).
- Bệnh gỉ sắt, phấn
trắng dùng Ridomil MZ 72 WP lợng 2,5 kg/ha hoặc Alvil 1-1,5 lít/ha phun khi
chớm có bệnh.
Cần chú ý khi ruộng
có cả sâu và bệnh thì phun kết hợp cả thuốc sâu và bệnh. Phun ướt đều cây để
giảm tối đa số lần phun.
5.
Thu hoạch.
Trong vụ xuân, lứa
đầu được thu sau 50-60 ngày, vụ thu muộn hơn 10 ngày. Thu quả đủ độ chín nhưng
không già (quả chuyển từ xanh đậm sang xanh nhạt, thấy rõ vết hạt ở thân quả).
Vào thời điểm rộ, thu mỗi ngày 1 lần vào sáng sớm. Trường hợp có phun thuốc hoá
học, thu sau phun 3 ngày, loại bỏ quả già, chỉ sử dụng quả đủ chất lượng
thương phẩm.
Nguồn: Kỹ thuật trồng rau sạch, NXB Nông nghiệp