Kinh nghiệm nuôi vỗ cá chép
đẻ
Cá chép
là đối tượng được nuôi sớm nhất trong các loài cá nuôi ở ao, hồ. Đồng thời cá
chép cũng là đối tượng có giá trị dinh dưỡng cao được người tiêu dùng ưa chuộng
nhất.
Từ lâu nay, tuy chỉ được coi là đối tượng nuôi ghép
trong ao, hồ với tỷ lệ ghép rất thấp không quá 7% trong cơ cấu thành phần cá
nuôi. Song cá chép lại có vị trí quan trọng không những chiếm tỷ trọng cao về
giá trị sản phẩm mà còn có vai trò làm sạch môi trường ao nuôi, hạn chế được ô
nhiễm tầng đáy (cá chép sống ở tầng nước đáy, ăn các sinh vật đáy và thức ăn
thừa tích tụ ở đáy ao).
Những năm gần đây phong trào nuôi cá ruộng phát triển
với nhiều hình thức: Nuôi xen canh (một vụ cá + một vụ lúa) trên diện tích
ruộng. Nuôi cá một vụ trên ruộng úng trũng chỉ cấy được một vụ lúa. Giống cá
chép được coi là đối tượng chủ lực nuôi ở ruộng. Chúng không chỉ đáp ứng nhu cầu
giống mà còn tạo ra sản phẩm hàng hóa, tăng thu nhập cho nông dân, tăng giá trị
đất trồng lúa nước.
Kỹ thuật nuôi vỗ cá chép và chọn cá cho đẻ đã có từ lâu,
tuy đơn giản và phổ cập. Nhưng lại là khâu quan trọng số một quyết định đến năng
suất hiệu quả cho cá đẻ và kế hoạch sản xuất giống.
Nuôi vỗ cá.
Ngoài tự nhiên về mùa xuân cá chép thường đẻ vào tháng 3
và đầu tháng 4 (tính theo dương lịch). Vì vậy muốn cho cá chép đẻ đúng vụ, đẻ
rộ, phải tiến hành nuôi vỗ cá bố mẹ kéo dài năm tháng (từ tháng 10 đến tháng 2
năm sau) và phân theo giai đoạn phù hợp với sinh lý, sinh thái của cá.
Giai đoạn I từ đầu tháng 10 đến hết tháng 12 (gọi là
nuôi vỗ tích cực). Giai đoạn này cá cần tích lũy vật chất cho cơ thể để phát
triển tuyến sinh dục từ giai đoạn II sang giai đoạn III. Thức ăn dùng để nuôi
giai đoạn này là: cám gạo hoặc bột ngô, bột đậu + 7-10% bột cá nhạt, ngày cho cá
ăn 1 lần vào buổi chiều mát, lượng thức ăn chiếm từ 5-7% khối lượng cá nuôi.
Đồng thời cho bổ sung thêm phân chuồng với lượng 30-40 kg/100m2 ao, 1 tuần lễ
cho ăn 1 lần.
Đến tháng 2 kiểm tra chất lượng cá sau khi nuôi vỗ giai
đoạn I. Nếu thấy cá béo khỏe, vẩy sáng bụng mềm và nổi gờ hình buồng trứng ở hai
bên lườn bụng, lật ngửa cá và dốc về phía đuôi thấy 2 buồng trứng hơi xệ xuống,
chọn cá này nuôi vỗ theo giai đoạn II.
Giai đoạn II từ đầu tháng 1 đến hết tháng 2 gọi là nuôi
vỗ thành thục. ở giai đoạn này làm cho cá chuyển nhanh tuyến sinh dục từ giai
đoạn III đến giai đoạn IV (giai đoạn cá đẻ). Thức ăn cho cá sử dụng ở giai đoạn
này là: Thóc hoặc ngô ngâm nẩy mầm, cám gạo + bột cá nhạt thức ăn từ 5-7% khối
lượng cá nuôi 1 tuần cho ăn 2 lần.
Đối với phân chuồng 30-40kg/100m2 ao 2 tuần cho ăn 1
lần.
Trong quá trình nuôi cần chú ý:
- Không để hàm lượng oxy xuống thấp 2mg/l. Vì thiếu oxy
cá sẽ nổi đầu và ảnh hưởng đến phát triển của trứng.
- Không để nước ở ao khác chảy sang, nhất là nuôi vỗ ở
giai đoạn II. Vì nước sẽ kích thích làm cho cá hưng phấn và đẻ, mặc dù không có
mặt cá đực.
Nuôi cá đẻ.
Đến cuối tháng 2 kết thúc giai đoạn nuôi vỗ thành thục
tiến hành kiểm tra phân loại cá để lên kế hoạch cho cá đẻ.
Đối với cá cái.
- Nếu có bụng to, mềm, lật ngửa cá nhấc cao đầu dốc về
phía hậu môn thấy hình của 2 buồng trứng xệ xuống và lỗ sinh dục đỏ hồng, hơi
lồi lên. Những loại cá này có thể cho đẻ ngay đầu vụ.
- Nếu cá cái bụng còn hơi cứng, da bụng còn dầy, lỗ sinh
dục có màu phớt hồng và hơi lồi ra, buồng trứng tuy ở giai đoạn IV nhưng hạt
trứng chưa rời nhau. Những loại cá này cho đẻ giữa vụ.
- Nếu cá cái bụng chưa mềm, lỗ sinh dục không lồi thì để
lại nuôi vỗ tiếp cho đẻ vào cuối vụ.
- Trường hợp cá cái có bụng to khác thường (bụng cóc)
hoặc không căng tròn, kiểm tra buồng trứng có nhiều hạt lép, là cá đã bị thoái
hóa buồng trứng cần thải loại.
Đối với cá đực phát dục cao hơn cá cái và đồng đều hơn,
khi vuốt nhẹ hai bên bụng nếu thấy tinh dịch màu trắng, đặc chảy ra thì cho cá
tham gia sinh sản ngay đầu vụ. Nếu tinh dịch chảy ra loãng như nhựa đu đủ nên để
cho loại cá này sinh sản ở giữa vụ và cuối vụ.
Đánh giá chất lượng cá bố mẹ cần phải kết hợp giữa quan
sát ngoại hình với việc thăm trứng. Nếu hạt trứng rời nhau, căng tròn (đồng đều
và có màu vàng hoặc vàng ngà là cá phát dục tốt.
Nguồn tin: Khoa học và Đời
sống