Xin chào bạn ! Tìm kiếm | Các chủ đề | Các thành viên | Đăng nhập | Đăng ký

Vệ sinh, phòng và trị một số bệnh phổ biến ở Lợn thịt Các tùy chọn
hoangha
Đã gửi bài: Friday, June 27, 2008 9:44:08 AM
Xếp loại: Thành viên cao cấp
Thuộc nhóm: Thành viên

Ngày đăng ký: 6/24/2008
Số bài gửi: 1,148
Số điểm: -1,669

Vệ sinh, phòng và trị một số bệnh phổ biến ở lợn thịt

Mục đích

Tập huấn này nhằm:

1. Dạy cho các học viên các nguyên nhân, triệu chứng, bệnh tích và phương pháp phòng và trị một số bệnh phổ biến của lợn nuôi thịt qua lý thuyết, quan sát và thực hành

2. Dạy cho các học viên các kỹ năng thao tác thú y và xử lý lợn.

Bảng 23. Thời gian và nội dung tập huấn

Thời gian

Nội dung

Trách nhiệm

7:30-8:30

Khai mạc, giới thiệu lớp học

Làm bài kiểm tra trước tập huấn

Trao đổi về bệnh dịch của lợn ở các địa phương của học viên

Cán bộ dự án, giáo viên nông dân, học viên

Cán bộ dự án, giáo viên nông dân, cán bộ trợ giúp

Cán bộ dự án, giáo viên nông dân, học viên

8:30-9:30

Sử dụng thuốc chữa bệnh cho vật nuôi

Cán bộ dự án, giáo viên nông dân, học viên

9:30-9:45

Nghỉ giải lao

 

9:45-11:30

Bệnh tụ huyết trùng ở lợn

Bệnh dịch tả lợn

Bệnh phó thương hàn

Bệnh đóng dấu lợn

Bệnh phù đầu, sưng mặt

Bệnh lợn nghệ

Cán bộ dự án, giáo viên nông dân, học viên

11:30-13:30

nghỉ trưa

 

13:30-15:00

Bệnh lở mồm long móng

Bệnh ỉa chảy lợn con

Bệnh lợn con ỉa phân trắng

Bệnh ghẻ

Bệnh đậu lợn

Bệnh suyễn lợn

Cán bộ dự án, giáo viên nông dân, học viên

15:00-15:15

Giải lao

 

15:15-17:00

Thực hành

- Phương pháp sử dụng và bảo quản dụng cụ thú y

- Giới thiệu một số loại thuốc vacxin, thuốc chữa bệnh, phương pháp sử dụng, bảo quản và quản lý thuốc thú y

- Một số thao tác về thú y, mổ giải phẫu, thiến lợn

Cán bộ dự án, giáo viên nông dân, học viên

17:00-17:30

Làm bài kiểm tra sau tập huấn

Bế mạc

Cán bộ dự án, giáo viên nông dân, học viên

Nguyên, vật liệu cần thiết cho thực hành

1 con lợn bột, cái, khoảng 25-30 kg hơi

1 bộ xy ranh, dao mổ, kim và chỉ khâu

Một số loại thuốc vắc xin, thuốc phòng và chữa bệnh

1. Phân biệt lợn ốm và lợn khoẻ

Lợn khoẻ mạnh

* Trạng thái chung: Lợn khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, vẻ mặt tươi tắn, thích hoạt động, đi lại quanh chuồng, khi đói kêu rít đòi ăn, phá chuồng.

* Nhiệt độ cơ thể trung bình: 38,50C, nhịp tim: 60-88 lần /phút, nhịp thở: 8-18 lần /phút. Lợn con có thân nhiệt, nhịp tim và nhịp thở cao hơn một chút.

* Mắt mở to, long lanh, khô ráo, không bị sưng, không có dử kèm nhèm. Niêm mạc, kết mạc mắt có màu hồng nhạt, không vàng hoặc không đỏ tía.

* Gương mũi ướt, mũi không chảy dịch, không cong vẹo, không bị loét.

* Chân có thể đi lại bình thường, không sưng khớp hoặc cơ bắp, không bị tổn thương, khoeo chân không bị dính bết phân.

* Tai có màu hồng bình thường, luôn ve vẩy, không bị xuất huyết, không bị tổn thương.

* Da bóng, có màu đặc trưng của giống, không có tổn thương, không có các điểm hoặc đám tụ /xuất huyết, không có ký sinh trùng.

* Lông mượt, mềm, không dựng đứng mà không bị rụng.

* Đuôi quăn lên, luôn ngoe nguẩy, uốn như lò xo khi có người lại gần vỗ lên lưng.

* Phân mềm thành khuôn, không bị táo hoặc lỏng. Màu sắc phân phụ thuộc vào màu của thức ăn ăn vào nhưng nên có màu xanh lá cây đến màu nâu, không đen hoặc đỏ. Phân không bị bao bởi màng nhày trắng, không lẫn ký sinh trùng, không có mùi tanh, khắm.

* Lợn đi đái thường xuyên, nước tiểu nhiều, có màu trắng trong hoặc vàng nhạt.

Lợn ốm

* Trạng thái chung: Dáng mệt mỏi, nằm im lìm cách xa những con khác hoặc chui vào trong lớp rơm lót chuồng, di lại xiêu vẹo hoặc không muốn cử động, dù bị đánh cũng không đứng dậy được. Lợn kém ăn hoặc bỏ ăn. Lưng gồng lên là do bị đau bụng hoặc rặn ỉa khi bị táo bón.

* Nhiệt độ cơ thể thường trên 400C (có thể lên đến 420C). Nhịp tim và nhịp thở cao hơn hoặc thấp hơn so với bình thường.

* Mắt nhắm hoặc chỉ hé mở, nháy lia lịa khi ánh sáng chiếu vào, có thể bị mù trong ánh sáng ban ngày, viêm kết mạc mắt.

* Mũi thường bị khô. Nếu mũi bị cong vẹo lợn có thể mắc bệnh viêm, teo mũi truyền nhiễm. Mũi bị loét có thể do lợn mắc bệnh ở miệng hoặc bệnh lở mồm long móng.

* Chân có thể bị tụt móng, vành và kẽ móng bị loét nếu lợn mắc bệnh lở mồm long móng. Khoeo chân dính bết phân là do bị ỉa chảy. Lợn có thể bị què, bại liệt, không đi lại được nếu thiếu khoáng.

* Tai có màu tím hoặc đỏ nếu lợn bị sốt hoặc có thể mắc dịch tả.

* Màu của phân là rất quan trọng. Màu và mùi khác thường của phân cho thấy lợn bị bệnh. Phân màu trắng là triệu chứng của bệnh lợn con ỉa phân trắng, màu đen là dấu hiệu lợn bị xuất huyết ở dạ dày và ruột non, màu đỏ cho thấy lợn bị xuyết huyết ở ruột già và mùi tanh, khắm chỉ ra bệnh dịch tả lợn.

* Nên quan sát lượng và màu của nước tiểu của lợn vì những dấu hiệu không bình thường về lượng và màu cho thấy những vấn đề trong hệ bài tiết. Nước tiểu ít, có màu đỏ có thể là do bị xuất huyết, màu vàng đỏ (có lẫn máu) là có thể do viêm thận, bàng quang, màu đỏ sẫm có thể do bệnh ký sinh trùng đường máu, vàng hoe do bị bệnh ở gan.

2. Chăm sóc lợn ốm

* Khi thấy lợn có bất cứ biểu hiện ốm nào phải nhốt riêng khỏi những con khoẻ để tránh lây lan bệnh.

* Chuồng trại phải sạch sẽ, thoáng khí và mát về mùa hè, ấm và kín về mùa đông. Mùa đông nên lót nền chuồng bằng rơm hoặc cỏ khô sạch.

* Tránh những tác động stress mạnh đối với lợn. Thường xuyên cung cấp nước sạch cho lợn uống. Nếu lợn chưa bỏ ăn hoặc khi bệnh giảm dần thì cho ăn thức ăn dễ tiêu (cháo, rau non...), cho thêm cá, mắm tôm, bột đậu tương rang... vào thức ăn để kích thích sự thèm ăn của lợn.

* Cần phải thường xuyên theo dõi thân nhiệt của lợn. Khi lợn sốt quá cao dùng khăn vải có nhúng nước đá để đắp vào vùng đầu. Cho uống nước chè đường nóng hoặc nước chè xanh nóng.

* Khi lợn bỏ ăn và mệt mỏi thì mời bác sĩ thú y đến khám và điều trị kịp thời. Thực hiện sự hướng dẫn của bác sĩ thú y về chăm sóc và sử dụng thuốc. Tránh để lợn nằm một chỗ lâu quá, thỉnh thoảng giúp nó trở mình, vỗ cho nó đứng dậy để vận động. Nếu cần thiết thì giúp lợn ăn bằng cách đổ thức ăn và nước vào mõm lợn.

3. Vệ sinh và phòng bệnh cho lợn

* Tổng vệ sinh và sát trùng chuồng lợn nên được ưu tiên hàng đầu và phải được thực hiện trước khi thả lợn mới vào chuồng. Vệ sinh thành và nền chuồng bằng nước và xà phòng rồi để cho khô.

* Sử dụng các loại thuốc sát trùng có hiệu quả đối với các mầm bệnh như dung dịch 20% nước vôi, 5% cresol hoặc 10% formalin (formalin có chứa 40% formaldehyde) để phun tường, nền chuồng và các dụng cụ.

* Khi mua lợn phải đẩm bảo là lợn đã được tiêm phòng đầy đủ trước khi mua và nên mua lợn từ những nguồn quen biết, tốt hơn là từ các gia đình quen biết

* Trước khi thả vào chuồng, lợn phải được tắm rửa sạch sẽ để loại bỏ phân và các thứ bẩn trên mình. Nhốt riêng hoặc cách ly những con mới mua về để quan sát tình hình sức khoẻ và điều trị nếu lợn bị ốm. Sau thời gian một tuần cách ly cần tiêm phòng vác xin và tẩy giun sán.

4. Lịch tiêm phòng cho lợn

Dịch bệnh thường phát sinh nhiều hơn vào mùa đông và mùa xuân nên phải tiêm phòng trước những mùa đó, theo đúng quy định. Bảng 24 giới thiệu lịch tiêm phòng cho lợn.

Đối với bệnh dịch tả, tiêm phòng cho lợn con sau 20 ngày tuổi trong giai đoạn bú mẹ. Vắc xin tụ huyết trùng và đóng dấu lợn thì phải tiêm cho lợn con sau 2 tháng tuổi. Tiêm phòng dịch tả và tụ huyết trùng cho lợn nuôi thịt 10 ngày sau khi nhập chuồng.

Bảng 24: Lịch tiêm phòng cho lợn

Loại vắc xin

Liều lượng

Vị trí tiêm

Thời gian tiêm phòng theo đợt *

Dịch tả lợn

1 ml/con, lợn con sau 20 ngày tuổi

Dưới da

2 lần /năm: tháng 3-4 và tháng 9-10

Đóng dấu VR2

0,2 ml/lợn con (lợn con sau 2 tháng tuổi) 1ml/lợn lớn

Dưới da

2 lần /năm: tháng 3-4 và tháng 9-10

Tụ huyết trùng

3 ml/lợn con (lợn con sau 2 tháng tuổi) 5 ml/lợn lớn

Dưới da

2 lần /năm: tháng 3-4 và tháng 9-10

Tụ dấu (tụ huyết trùng và đóng dấu)

2 ml/lợn con (lợn con sau 2 tháng tuổi) 3 ml/lợn lớn

Dưới da

2 lần /năm: tháng 3-4 và tháng 9-10

Phó thương hàn

Lần 1: 2 ml/lợn con (lợn con 20 ngày tuổi), Lần 2: 2ml/lợn con (27 ngày tuổi, 1 tuần sau lần 1)

2-3 ml/lợn con (lợn con 2 tháng tuổi, sau cai sữa)

Dưới da

2 lần /năm: tháng 3-4 và tháng 9-10

Phù đầu, săng mặt

2-3 ml/lợn con (lợn con từ 21-30 ngày tuổi)

Dưới da

2 lần /năm: tháng 3-4 và tháng 9-10

* Chương trình tiêm phòng quốc gia

Chú ý: Lợn nái chửa, lợn con dưới 20 ngày tuổi chỉ tiêm phòng khi có dịch và chỉ được tiêm vào ổ dịch.

5. Một số bệnh phổ biến ở lợn và cách phòng, trị

5.1. Bệnh ỉa phân trắng ở lợn con

Nguyên nhân, triệu chứng và bệnh tích

Bệnh này do vi khuẩn E.Coli gây ra, là bệnh rất phổ biến ở Việt Nam. Nó ảnh hưởng tới 70-80% số lợn sơ sinh từ 3 đến 5, tới 25 ngày tuổi. Bệnh có thể xảy ra khi chuồng trại ẩm thấp, nền chuồng bị ướt, lạnh và bẩn.

Lợn mới mắc bệnh lúc còn bú phân vón như hạt đậu, sau đó phân lỏng dần, màu vàng trắng, mùi tanh khắm. Cuối kỳ bệnh lợn bỏ bú, rúc vào chất độn

chuồng, run rẩy và thân nhiệt bị hạ, thường chết sau 5-7 ngày mắc bệnh.

Dạ dày chướng to, trong chứa đầy sữa vón. Ruột chứa nhiều dịch màu vàng, ruột già chướng hơi và chứa nhiều phân trắng. Xác chết gầy dộc, lông xù, cơ tim nhão, gan nhợt nhạt.

Phòng và trị bệnh

* Bảo đảm chuồng sạch, ấm và khô. Mùa đông nên có ổ úm và rơm /rạ lót chuồng để giữ cho lợn con được ấm. Hạn chế khẩu phần cho lợn nái trước khi đẻ 1 - 2 tuần.

* Có thể dùng vắc xin chủng E.Coli tiêm cho lợn nái với liều 10 ml /con vào cuối kỳ chửa (khoảng 1 tháng trước khi đẻ)

* Tiêm Dextran Fe (loại 200 ml /lít) cho lợn con từ 3-10 ngày tuổi, 2 ml/ con

* Cho ăn Antidiaria (0,2 ml/con/ ngày), trộn với thức ăn

* Cho uống Dung dịch Scut (1 ml/con/ ngày)

* Cho uống Kanamycine (30-50 mg/kg thể trọng lợn /ngày, 1 lần /ngày), Sulfaguanidine (500 mg/con) hoặc Fuo -xit, Norfloxacin, Tiamulin, Enrofloxaxin (theo hướng dẫn của bác sĩ thú y). Có thể dùng nước ép quả hồng xiêm xanh, lá phèn đen, cây cỏ xước, cây dừa nước, búp sim cho lợn uống khi mới mắc bệnh (mới bị rối loạn tiêu hoá).

5.2. Bệnh ỉa chảy ở lợn con

Nguyên nhân, triệu chứng và bệnh tích

Bệnh này phổ biến đối với lợn con sau cai sữa, trong những ngày đầu của giai đoạn nuôi thịt. Nó kết hợp với viêm ruột cấp tính và mãn tính.

Nguyên nhân chính là do thay đổi trong nuôi dưỡng (thay đổi thức ăn, cách và thời gian cho ăn), không đảm bảo chất lượng dinh dưỡng và chăm sóc. Lợn 2-3 tháng tuổi dễ mắc bệnh khi phải ăn thức ăn thô, cứng, nhiều xơ, bị nuôi trong điều kiện vệ sinh kém hoặc do ký sinh trùng hoặc do kế phát của bệnh truyền nhiễm như phó thương hàn. Bệnh không chỉ bị nhiễm ở 1 -2 con mà còn xảy ra với số lượng lớn.

Những triệu chứng ban đầu là lợn kém ăn đi nhiều, nằm úp bụng, phân lỏng, ỉa chảy thành dòng. Lợn ít sốt nhưng xác gầy rất nhanh, nằm không muốn dậy, đi lại khó khăn, xiêu vẹo, dựa tường, mệt mỏi, mặt tái trắng, mắt lờ đờ. Bệnh tiến triển trong 10-15 ngày thì chết. Nếu có khỏi được thì còi cọc, tăng trọng chậm. Trong trường hợp bệnh nặng, thân lợn rất gầy và lạnh, bụng tóp lại, da khô và lông xơ xác. Thành ruột viêm thường có màu đỏ /tím/đen, cứng và phù, đoạn không viêm thì mỏng có chứa hơi.

Phòng và trị bệnh

* Phải vệ sinh và tẩy uế chuồng trại trước khi nhập lợn vào chuồng. Đảm bảo chuồng trại luôn khô ráo, sạch sẽ trong quá trình nuôi.

* Đặc biệt chú ý chăm sóc, nuôi dưỡng tốt lợn con, cho ăn thức ăn có chất lượng tốt trong những ngày đầu sau cai sữa. Thường xuyên cho lợn uống đủ nước sạch. Phải thực hiện tẩy giun sán cho lợn ngay sau khi cai sữa.

* Trị bệnh dùng lá ổi, lá sim sắc đặc, cho uống 10 ml /lần hoặc dùng quả măng cụt, hồng xiêm giã nhỏ, vắt lấy nước cho uống

* Có thể dùng một trong các loại thuốc sau để điều trị sau khi tham khảo ý kiến của bác sĩ thú y:

a. Thuốc đặc trị ỉa chảy: Enrofloxacin; Norfoxacin, Streptomycine, Sunfaguanidine, Fuo-xit; T.T.S)

b. Carbotamine 5.000 mg/lần, ngày 3 lần

c. Chlorocide, garnidane 50 mg/kg thể trọng /ngày, trong 3-5 ngày

d. Streptomycine 25 mg/kg thể trọng, ngày uống 2 lần, trong 2 -3 ngày

Trợ sức bằng vitamin B1, B2, B3, glucose. Nếu cơ thể bị mất nước nhiều thì dùng dung dịch điện giải cho lợn uống

5.3. Bệnh tụ huyết trùng

Nguyên nhân, triệu chứng và bệnh tích

Bệnh này xảy ra ở lợn lớn, sau khi thời tiết thay đổi hay vận chuyển. Lợn hay bị nhiễm hơn nếu không được tiêm phòng triệt để.

ở thể cấp tính lợn khó thở, sốt cao, chảy nước mũi, mắt đỏ, ủ rũ, bỏ ăn. Lợn có thể chết đột ngột. Sau khi chết thân tím bầm, miệng sùi bọt mép.

Vùng da sau gáy, ngực, bụng và đùi sau đỏ ửng. Vùng dưới da tụ máu và có keo nhày. Phổi bị xung huyết hay viêm nặng, hạch phổi sưng, thanh quản và phế quản có dịch màu đỏ. Gan, thận, lách sưng to và xuất huyết.

Phòng và trị bệnh

* Thực hiện vệ sinh sạch sẽ và sát trùng chuồng trại. Nhốt cách ly con ốm để điều trị riêng và nếu có thể thì tiêm phòng cho những con khoẻ. Thực hiện triệt để việc tiêm phòng vắc xin định kỳ theo quy định.

* Điều trị bằng Steptomycine Sulphate, Gentamycine hay Kanamycine, Chlortetradesol, Pneumotic, Tetracyclin kết hợp với thuốc trợ tim, vitamin B1 sau khi có hướng dẫn của bác sĩ thú y.

5.4. Bệnh dịch tả lợn

Nguyên nhân, triệu chứng và bệnh tích

Bệnh này vẫn còn xảy ra lác đác ở những nơi lợn không được tiêm phòng nghiêm ngặt. Bệnh do virut gây nên, lây lan nhanh.

Lợn bị bệnh sốt cao, bỏ ăn, ỉa chảy hay táo bón. Mắt đỏ, có dử. Mõm, vành tai, vùng bụng và chân có lấm tấm xuất huyết hay tím bầm. Khi mắc bệnh lợn thường chết.

Lấm tấm xuất huyết ở ngoài da, ở thận và bàng quang, ở hạch lâm ba. Lách sưng, rìa lách bị nhồi huyết hình tam giác. Manh tràng và kết tràng có nốt loét hình cúc áo.

Phòng và trị bệnh

* Kháng sinh không có tác dụng đối với bệnh. Do đó phải thực hiện triệt để việc tiêm phòng vác xin định kỳ cho lợn nái và lợn con theo quy định của thú y.

* Kịp thời cách ly hoặc loại thải những con lợn mắc bệnh, tiêu huỷ lợn chết.

* Tiêu độc chuồng trại bằng nước vôi 20%, Cresol 2% trước khi thả lợn mới vào chuồng.

5.5. Bệnh phó thương hàn

Nguyên nhân, triệu chứng và bệnh tích

Lợn con từ 25 ngày tuổi đến sau khi cai sữa dễ mắc bệnh.

Thể cấp tính: lợn sốt cao, bại huyết, xuất huyết trong nội tạng, nôn mửa và ỉa chảy.

Thể á cấp tính: lợn thở gấp, ỉa chảy, da có vết tím, hồi tràng, manh tràng và kết tràng bị loét do hoại tử, vết loét không có ranh giới rõ rệt. Lợn thường chết sau 10 ngày phát bệnh.

Thể mãn tính: lợn gầy yếu, ỉa chảy kéo dài, phân thối và có lẫn máu, hồi tràng, manh tràng và kết tràng bị loét do hoại tử, vết loét không có ranh giới rõ rệt.

Phòng và trị bệnh

* Thực hiện triệt để lịch tiêm phòng cho lợn con. Vệ sinh và sát trùng chuồng trại bằng nước vôi 20% hoặc Crezol 5%

* Dùng một trong các loại thuốc sau để điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ thú y:

a. Chloramphenicol: 1-2 ml/10 kg thể trọng /ngày, ngày 2 lần

b. Gentamycine: 0,4 ml/kg thể trọng /ngày, ngày 2 lần

c. Colistil: 1- 2ml/10 kg thể trọng /ngày, ngày 2 lần

d. Tiamulin, Colivit, Fuoxit, Norfloxaxin, Erofloxaxin.

Kết hợp với thuốc trợ tim và vitamin B1

5.6. Bệnh xoắn khuẩn (bệnh lợn nghệ)

Nguyên nhân, triệu chứng và bệnh tích

Nguồn dịch lây lan qua chuột, gây bệnh cho lợn ở mọi lứa tuổi.

Lợn sốt cao, ủ rũ, bỏ ăn, đôi khi xuất hiện phù ở cổ và mặt, da vàng, nước tiểu vàng sẫm. Nếu bệnh kéo dài thì triệu chứng không rõ, lợn kém ăn, gầy yếu.

Thân thịt có mùi khét đặc biệt, niêm mạc và lớp mỡ dưới da màu vàng, gan nhũn và có màu đất sét, túi mật sưng, thận nhợt nhạt, cơ tim nhão, bao tim tích nước.

Lợn ốm có lúc bị co giật, vận động khác thường, lợn nái thường dễ sảy thai hoặc chết thai.

Phòng và trị bệnh

* Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, không để thức ăn thừa trong máng ăn qua đêm

* Diệt chuột, cách ly lợn ốm. Tiêm phòng vắcxin vô hoạt Type leptospira phù hợp với liều lượng: 2-3 ml/kg thể trọng

* Điều trị bằng một trong các loại thuốc sau theo hướng dẫn của bác sĩ thú y:

a. Chlotetradexol: 1 ml/kg thể trọng /ngày, ngày 2-3 lần

b. Oxytetracycline: 250-500 mg/15-30 kg thể trọng /ngày

c. Tetracycline: 1 ml/5kg thể trọng /ngày, ngày 2 lần

d. Streptomycine kết hợp với Penicillin ngày tiêm 2 lần

e. Leptoxine

Kết hợp với thuốc trợ tim, vitamin B1, Urotropin 20% tiêm bắp

5.7. Bệnh lở mồm, long móng

Nguyên thân, triệu chứng và bệnh tích

Bệnh lở mồm, long móng là do vi rut gây ra, có thể lây lan nhanh ở lợn, trâu và bò. Trong thời gian ủ bệnh, từ 1 -5 ngày, lợn bị sốt, run rẩy, bỏ ăn.

Chân sưng to nên dễ bị què, sau đó hình thành mụn nước ở vành móng và kẽ móng, trường hợp nặng móng bị tuột ra và chảy máu. Viêm, sưng miệng, lưỡi, vành mũi rồi hình thành mụn nước và loét, miệng chảy dãi. Phổi, tim bị xung huyết, cơ tim nhão.

Phòng và trị bệnh

* Phát hiện bệnh sớm, bao vây chặt ổ dịch, cách ly triệt để lợn mắc bệnh.

* Tiêu độc chuồng trại bằng nước vôi 20%, Crezol 5%. Tiêm phòng bằng vắc xin theo quy chế của Cục Thú y.

* Rửa sạch vết loét bằng dung dịch thuốc tím 0,1%. Sau đó dùng chanh, khế chua sát vào những chỗ bị viêm loét rồi dùng hỗn hợp kháng sinh kết hợp với bột than xoan hoặc với bột phèn chua bôi lên các vết loét.

Dùng Urotropin 20%, thuốc trợ tim kết hợp với vitamin B1 để tiêm bắp.

5.8. Bệnh hen suyễn lợn

Nguyên nhân, triệu chứng và bệnh tích

Bệnh này là một bệnh phổ biến trên lợn, do Mycoplasma gây ra. Nó phổ biến ở những vùng có mật độ nuôi lợn thịt cao, lợn con được mua từ nhiều nơi về hoặc những nơi có nghề gột và buôn bán lợn con, xuất nhập lợn thường xuyên.

Lợn bị ho khan kéo dài liên tục. Tỷ lệ mắc bệnh 30-80% nhưng tỷ lệ chết thấp.

Ho rõ nhất sau khi ăn và khi vận dộng. Lợn chậm lớn, gầy yếu. Thường bội phát tụ huyết trùng thì chết nhanh.

Thuỳ đỉnh, thuỳ tim và thuỳ đáy phổi bị gan hoá màu sẫm hay nhục hoá, quan sát ở thuỳ tim có bệnh tích ở hai bên lá phổi.

Phòng và trị bệnh

* Cần phát hiện sớm và cách ly triệt để lợn ốm. Tẩy uế chuồng trại bằng dung dịch nước vôi tôi 20% hoặc Cresol 5%.

* Dùng vắc xin tiêm phòng cho lợn con 7 ngày tuổi. Loại thải lợn bố, mẹ bị bệnh.

* Điều trị bằng một trong các loại thuốc sau:

a. Tetramuline: 1 ml/10 kg thể trọng /ngày.

b. Tylosine: 3 ml/5-6 kg thể trọng /ngày.

c. Tylan: 10 ml/20-30 kg thể trọng /ngày.

Kết hợp với thuốc trợ tim, thuốc bổ và Prednisolon (thuốc chống viêm). Các kháng sinh, thí dụ như Tyamuline (liều dùng: 1 ml/8-10 kg thể trọng /ngày) được sử dụng để kiềm chế và điều trị bệnh viêm phổi, bệnh thứ cấp do vi khuẩn gây ra.

5.9. Bệnh ghẻ

Nguyên nhân, triệu chứng và bệnh tích

Bệnh này phổ biến ở những vùng có mật độ lợn lớn, lợn xuất /nhập thường xuyên.

Lợn lất ngứa, luôn cọ gãi người vào thành chuồng hoặc cũi làm cho da trở nên xù xì Thường thấy nhiều mụn ghẻ ở mặt, tai, sau lan sang tai, mé sườn, bụng và bốn chân. Khi lợn cọ các mụn ghẻ này dễ bị vỡ, chảy máu và dẫn đến loét.

Thông thường là ghẻ Sacroptes dễ chữa hơn ghẻ Demorex ăn sâu vào dưới da.

Phòng và trị bệnh

* Tổng vệ sinh toàn bộ chuồng trại và cách ly lợn ghẻ.

* Điều trị bằng Ivermectine 0,5 ml/25 kg thể trọng /ngày, tiêm dưới da 1 lần. Ba tuần sau tiêm nhắc lại một lần nữa.

* Vệ sinh sạch sẽ da lợn và bôi mỡ trị ghẻ hay bôi thuốc Dimethyl Photalate 40% hay dung dịch Dipterex 1% sát vào vùng bị ghẻ.

5.10. Bệnh đậu

Nguyên nhân, triệu chứng và bệnh tích

Bệnh này do vi rut gây ra, vi rut xâm nhập vào cơ thể thông qua việc làm vỡ da và bệnh có thể lây lan rất nhanh khi chuồng trại không được đảm bảo sạch sẽ, luôn bị ẩm ướt và có gió. Các lứa tuổi lợn đều có thể mắc bệnh nhưng đa số lợn non hơn dễ bị nhiễm hơn.

Lúc đầu lợn sốt cao tới 400C, giảm ăn. ở dưới bụng, vành tai và mõm thường mọc các nốt đậu lõm: da mẩn đỏ từng đám, sau hình thành mụn nước rồi loét có mủ ở giữa. Lợn bị ngứa và thường cọ vào tường, cuối cùng thì vết loét đóng vẩy.

Lợn con đang bú mẹ mắc bệnh có thể sinh ỉa chảy hay viêm phổi, nặng có thể chết. Bệnh kéo dài từ 10-28 ngày.

Phòng và trị bệnh

* Duy trì chuồng lợn sạch và nền chuồng luôn được khô ráo, tránh gió cho lợn. Tránh cho da lợn không bị tổn thương.

* Điều trị bệnh bằng các cách sau:

a. Đề phòng bội nhiễm, tiêm bắp Ampicilline (250 mg/25-30kg thể trọng), ngày 2 lần hoặc Penicilline 0, 5 lọ/con, ngày 2 lần.

b. Rửa vết đậu bằng thuốc tím 0,1% rồi lau sạch, bôi thuốc mỡ Penicilline chống nhiễm trùng.

c. Dùng Urotropin 20% tiêm bắp (tăng cường giải độc cho cơ thể).

d. Dùng lá trầu không và lá lốt giã nhỏ trộn với rượu rồi xát lên mụn đậu ngày 2-3 lần.

5.11. Bệnh lợn đóng dấu

Nguyên nhân, triệu chứng và bệnh tích

Bệnh thường xảy ra đối với lợn từ 3 tháng tuổi trở lên.

Lợn bị sốt cao trên 400C, ủ rũ, bỏ ăn, sưng khớp. Da có vết dấu đóng hình vuông màu đỏ, ấn tay vào thì hết vết đỏ, cuối kỳ bệnh da bị hoại tử và bong ra.

Thể cấp tính: Lợn bị xuất huyết ở dạ dầy và ruột. Tim, phổi, gan và thận bị sưng.

Thể mãn tính: Lợn bị viêm khớp và viêm màng trong tim.

Phòng và trị bệnh

* Vệ sinh và tiêu độc chuồng trại bằng nước vôi 20% hoặc Cresol 5%. Đảm bảo lợn được tiêm phòng vác xin theo đúng qui định.

* Tiêm Penicillin hoặc Pencana, Kanamycin. Dùng thuốc trợ sức và trợ lực (vitamin B1, thuốc trợ tim, Urotropin 10%).

5.12. Bệnh phù đầu, sưng mặt ở lợn con

Nguyên nhân, triệu chứng và bệnh tích

Bệnh này do tộc tố của một số chủng E.Coli có khả năng gây xung huyết hoặc do độc tố gây nên, kết hợp với việc thay đổi thức ăn đột ngột. Lợn từ 6-8 tuần tuổi hay mắc.

Lợn mắc bệnh không thể đứng được, chỉ nằm hoặc có tư thế chó ngồi. Có triệu chứng thần kinh (vận động quay tròn, đầu lao về phía trước). Đầu, mặt và mí mắt bị phù. Hầu bị sưng phù gây nên khó thở và có tiếng kêu khác thường. Có tới 30-40% lợn có thể bị nhiễm bệnh và hầu hết 100% số lợn mắc bệnh bị chết và chết rất nhanh.

Phòng và trị bệnh

* Giữ chuồng trại sạch sẽ và thoáng mát.

* Không thay đổi thức ăn đột ngột. Cho lợn ăn nhiều thức ăn rau xanh.

* Tiêm vắc xin cho lợn nái có chửa trước khi đẻ 2 tuần, lợn con 21 -30 ngày tuổi.

* Vì lợn chết do độc tố cho nên kháng sinh không có hiệu lực, hiệu quả điều trị không cao. Tuy nhiên, sử dụng kháng sinh sớm có tác dụng làm giảm số lượng vi khuẩn, từ đó cũng làm giảm được lượng độc tố. Vì vậy nếu bệnh nhẹ, dùng kháng sinh điều trị kết hợp với việc điều chỉnh lại thức ăn (giảm thức ăn có nhiều đạm, tăng thức ăn xơ) và tăng cường giải độc cho cơ thể cũng như dùng thuốc an thần thì hiệu quả điều trị đạt 30 - 40%.

6. Qui trình sử dụng thuốc để chữa bệnh cho lợn

6.1. Các nhóm thuốc thông dụng

Để điều trị cho lợn, có một số nhóm thuốc thường dùng sau:

* Nhóm thuốc kháng sinh

* Nhóm thuốc trị ký sinh trùng

* Nhóm vitamin, khoáng

* Nhóm thuốc chống viêm, hạ sốt, giảm đau

* Nhóm thuốc sát trùng cục bộ

* Nhóm dung dịch truyền

6.1.1. Thuốc kháng sinh

Các loại thuốc kháng sinh

Thuốc kháng sinh dùng để trị bệnh do vi khuẩn, không trị được bệnh do vi rút và nấm. Các loại thuốc kháng sinh chỉ nên được sử dụng sau khi có sự hướng dẫn của bác sĩ thú y.

Các kháng sinh thường dùng:

* Penicillin                    * Ampicillin                  *Colistine

* Streptomycin             * Oxytctracycline          * Tylosin

* Trimethoprim

Có thể phối hợp 2 loại kháng sinh với nhau.

Thí dụ: Penicillin và Streptomycin

Ampicillin và Colistine

Sulfamid và Trimethoprim

Nguyên tắc sử dụng kháng sinh

* Sử dụng kháng sinh đúng liều lượng: Dùng kháng sinh đúng liều sẽ tiêu diệt được vi khuẩn. Nếu không đủ liều thì gia súc không những không khỏi được bệnh mà còn làm cho vi khuẩn nhờn thuốc, lần sau dùng kháng sinh sẽ không có hiệu quả.

* Sử dụng kháng sinh để điều trị càng sớm càng tốt: Nên dùng kháng sinh đúng liều ngay sau khi phát hiện ra bệnh. N

* Đủ liệu trình: Dùng kháng sinh ít nhất là 3 ngày liên tục hoặc cho đến 1-2 ngày sau khi hết các biểu hiện nhiễm khuẩn (sốt, sưng hạch, ho, ỉa chảy. . . .).

* Xem xét, kiểm tra trong quá trình sử dụng thuốc kháng sinh: Nếu sau 5- 6 ngày dùng kháng sinh mà không khỏi bệnh thì nên đổi loại kháng sinh khác hoặc xem lại việc chẩn đoán bệnh.

* Mỗi lần chỉ sử dụng một loại kháng sinh: chỉ nên sử dụng một loại kháng sinh hoặc kết hợp hai loại theo hướng dẫn của bác sĩ thú y. Nếu sử dụng nhiều loại kháng sinh cùng lúc sẽ gây nguy hiểm cho gia súc.c

* Không nên lạm dụng thuốc kháng sinh: không nên dùng kháng sinh để phòng bệnh hoặc dùng tràn lank, tuỳ tiện.

* Phải đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm: Tất cả các loại thuốc kháng sinh đều có thời gian an toàn cho sản phẩm. Đây là khoảng thời gian từ sau khi kết thúc lần điều trị cuối cùng đến khi an toàn tiêu thụ thịt. Điều này là để đảm bảo không còn tồn dư thuốc kháng sinh trong thịt. Vì thế, không nên mổ thịt gia súc trước thời gian an toàn. Thời gian an toàn này khác nhau, tuỳ thuộc loại kháng sinh theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

* Kết hợp các biện pháp điều trị:: Khi sử dụng kháng sinh cần kết hợp với bổ sung các vitamin cần thiết, dinh dưỡng tốt và đảm bảo chăm sóc và quản lý tốt sẽ giúp cho gia súc khỏi bệnh và phục hồi sức khoẻ nhanh

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của kháng sinh

Các nguyên nhân làm cho sử dụng kháng sinh không có hiệu quả:

* Chọn kháng sinh không đúng loại để điều trị

* Liều kháng sinh sử dụng quá ít hoặc thời gian điều trị quá ngắn

* Chất lượng kháng sinh không tốt

* Dùng kháng sinh quá muộn hoặc khi gia súc quá ốm, yếu

* Do vi khuẩn nhờn thuốc

* Bệnh do virus, do ngộ độc...

6.1.2. Thuốc trị ký sinh trùng

Một số loại thuốc trị ký sinh trùng thường dùng:

Thuốc trị nội ký sinh trùng

* Thuốc tẩy giun tròn:

Levamisol

Ivermectin

Menbendazol

* Tẩy giun, sán

Fenbendazol

* Tẩy sán lá gan trâu bò

Dertil B                                                Faciolid (Nitroxinil 25%)

Tolzan D (oxyclozanid)                         Fasinex

* Trị ký sinh trùng đường máu

Azidin                                                   Trypazen

Berenil                                      Trypamidium

Thuốc trị ngoại ký sinh trùng

Sử dụng một trong các loại thuốc sau để diệt ve, ghẻ, mạt, mò, rận…

Dipterex (Trichlorphon)

Hantox (Amitraz)

Ivermectin (tiêm dưới da)

6.1.3. Thuốc chống viêm, hạ sốt, giảm đau

Analgin: Có tác dụng hạ sốt và giảm đau.

Dexamethasone: được dùng để chống viêm và giảm đau.

Chú ý: Nên sử dụng kết hợp với các loại kháng sinh và sulfamid. Không dùng cho gia súc có chửa.

6.1.4. Nhóm vitamin và khoáng

Vai trò của các vitamin và khoáng

Vitamin và khoáng không những đóng trai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển bình thường của vật nuôi mà còn hỗ trợ cho quá trình điều trị và là thuốc điều trị trong bệnh thiếu vitamin, khoáng.

Các vitamin chủ yếu

Vitamin A: Hỗ trợ điều trị bệnh về mắt, chống nhiễm trùng, giúp mau lành vết thương. Vitamin A có nhiều trong rau xanh, cà rốt, bí đỏ, khoai lang ruột nghệ.

Vitamin B1: Có tác dụng bổ thần kinh và kích thích tiêu hoá. Vitamin B1 có nhiều trong cám gạo.

Vitamin C: Có tác dụng tăng sức đề kháng của cơ thể và giải độc. Thường được sử dụng kết hợp để điều trị trong các bệnh nhiễm trùng. Vitamin C có nhiều trong các loại rau tươi.

Vitamin D: chống còi xương và kích thích sinh trưởng, có nhiều trong xương.

Vitamin E: có tác dụng kích thích sinh sản, tái tạo tế bào, cần thiết cho hệ thần kinh và kháng thể. Vitamin E có nhiều trong mầm lúa, giá đỗ.

Chú ý: Phải bảo đảm cân đối các loại vitamin trong khẩu phần. Không dùng quá nhiều vitamin A, D, E vì có thể gây ngộ độc cho vật nuôi.

 

Các chất khoáng

Tuy chỉ cần một lượng khoáng rất nhỏ nhưng lại vô cùng cần thiết cho cơ thể vật nuôi.

Một số trường hợp thường phải bổ sung khoáng:

* Đối với bệnh ỉa chảy: Cho uống dung dịch điện giải trong trường hợp vật nuôi bị ỉa chảy. Nếu không có dung dịch điện giải thì pha 6 thìa muối và 1/2 thìa đường gluco trong 1 lít nước ấm rồi cho gia súc uống.

* Đối với lợn con sơ sinh: Tiêm sắt -dextran khi lợn con được 3 và 10 ngày tuổi.

* Đối với lợn nái: bổ sung khoáng cho lợn nái có chửa và nuôi con.

6.1.5. Dung dịch truyền

Có hai loại dung dịch truyền thường dùng là nước muối sinh lý và dung dịch Glucoza 5%.

* Nước muối sinh lý hoặc nước sinh lý mặn (Natri clorua-HCl 0,9%): dùng khi gia súc mất máu, ỉa chảy, nôn mửa, ngộ độc.

* Dung dịch glucoza 5% hoặc nước sinh lý ngọt: dùng để giải độc, tăng đường huyết.

6.1.6. Thuốc sát trùng cục bộ

Vai trò của thuốc sát trùng

Thuốc sát trùng cục bộ có tác dụng diệt mầm bệnh trên da, niêm mạc và các vết thương.

Một số thuốc sát trùng thông dụng

* Dung dịch thuốc tím (KMnO4): Dùng dung dịch thuốc tím 1% để sát trùng vết thương và thụt rửa đường sinh dục cái

* Dung dịch xanh Methylen 1%: thường dùng bôi vết thương ngoài da

* Cồn 700: dùng để sát trùng vết thương

* Cồn I ốt 2-5%: dùng để sát trùng vết thương ngoài da

* Nước ôxy già (H2O2): dùng để sát trùng vết thương nông hoặc sâu

* Cồn I ốt pha với Ôxy già (theo tỷ lệ 1: 1): dùng để rửa các vết thương sâu. Sử dụng bơm tiêm (không kim) xịt thuốc vào các vết thương

* Axir boric 1-3%: thường dùng để rửa sạch và sát trùng các vết thương ở mắt

* Trong trường hợp không có các loại thuốc sát trùng trên, có thể dùng:

a. Nước muối: Cách pha như sau: lấy một thìa to muối ăn (15 gam) cho vào một lít nước sạch, khuấy đều, đun sôi, để nguội rồi đem dùng. Nước muối này rẻ, dễ làm, có thể được sử dụng như thuốc sát trùng vết thương nhưng chỉ sử dụng lúc đầu, sau đó phải dùng loại thuốc sát trùng khác.

b. Nước quả chua: chanh, khế... cũng có tác dụng sát trùng vết thương, vết loét.

6.2. Cách đưa thuốc vào cơ thể

Để đưa thuốc vào cơ thể vật nuôi, thường sử dụng các cách sau:

* Tiêm                                      * Bôi ngoài da

* Cho ăn hoặc uống                              * Thụt rửa, bơm

Tiêm thuốc

Đường tiêm: Có 3 đường chính là tiêm bắp, tiêm dưới da và tiêm tĩnh mạch (tiêm ven)

Vị trí tiêm:

* Tiêm bắp, tiêm dưới da: sau gốc tai, cách gốc tai một khoảng bằng độ dài từ gốc đến đỉnh nhọn của lai.

* Tiêm tĩnh mạch: tiêm vào tĩnh mạch ở đuôi hoặc tai, nhưng nông dân không nên tự tiêm tĩnh mạch cho lợn, chỉ bác sĩ thú y hoặc kỹ thuật viên có thể tiêm được.

Chú ý: Việc tiêm tĩnh mạch (tiêm ven) cần hết sức thận trọng, phải đẩy hết không khí ra khỏi bơm tiêm trước khi đưa thuốc vào cơ thể để tránh sốc, phải đâm kim cho chính xác và bơm thuốc chậm.

Cho ăn hoặc uống thuốc

Thuốc viên: thường cho vào sâu trong miệng, đặt tận gốc lưỡi để lợn dễ nuốt. Tránh làm thuốc đi vào khí quản và phổi, làm cho gia súc bị sặc và chết

Thuốc bột, thuốc nước: pha với nước cho uống hoặc trộn với thức ăn để lợn ăn cùng

Bôi thuốc ngoài da

Thuốc nước: dùng để rửa vết thương, nốt loét ngoài da, chống nhiễm trùng

Thuốc bột: dùng để rắc lên vết thương

Thuốc mỡ: dùng để bôi lên vết thương

Thụt rửa hoặc bơm thuốc

Thụt rửa thuốc là phương pháp ứng dụng trong các bệnh đường sinh dục, sót nhau.

Bơm thuốc là phương pháp ứng dụng trong các trường hợp viêm vú.

6.3. Những thông tin trên nhãn thuốc

Đọc kỹ nhãn thuốc trước khi sử dụng.

Trên nhãn có các thông tin sau:

* Tên thuốc                                                                  * Liều dùng và cách sử dụng

* Thành phần thuốc                                                      * Thời hạn sử dụng

* Lượng (mg, g, ml) hoặc đơn vị (IU)            * Tên nhà sản xuất và số lô sản xuất

* Chỉ định (công dụng)                                      * Các khuyến cáo khác

6.4. Cách tính liều lượng thuốc cần thiết

Các bước tính liều lượng thuốc cần thiết

Bước 1: Ước lượng thể trọng của vật nuôi (kg)

Bước 2: Xác định liều thuốc nguyên chất cần cho 1 kg thể trọng trong 1 ngày

Bước 3: Tính lượng thuốc nguyên chất cần dùng cho con vật trong 1 ngày

Bước 4: Tính lượng thuốc thương phẩm (dạng nước hoặc dạng bột) cần dùng cho con vật trong 1 ngày

Bước 5: Tính lượng thuốc thương phẩm cần dùng cho con vật trong cả liệu trình

Thí dụ: Tính lượng thuốc Oxytetracycline dạng nước cần trong 5 ngày để điều trị cho 1 con lợn ốm nặng 30 kg.

Thông tin in trên nhãn như sau:

Liều thuốc nguyên chất là: 10 mg/kg thể trọng

Oxytetracycline......... 5 .000 mg

Tá dược vừa đủ..............100 ml

Cách tính như sau:

Bước 1: Thể trọng của con lợn là 30 kg

Bước 2: Liều Oxyletracycline nguyên chất cần dùng là 10 mg /kg thể trọng /ngày

Bước 3: Lượng Oxytetracycline nguyên chất cần dùng cho con lợn trong 1 ngày

1 kg thể trọng lợn cần 10 mg Oxytetracycline nguyên chất.

30 kg thể trọng lợn cần X mg Oxytetracycline nguyên chất?

 X = kg thể trọng lợn x Liều thuốc nguyên chất cho 1 kg thể trọng

X = 30 kg x 10 mg=300 mg

Bước 4: Lượng Oxytetracycline thương phẩm dạng nước cần cho con lợn trong 1 ngày:

5.000 mg Oxytelracycline nguyên chất có trong 100 ml thuốc nước thương phẩm.

300 mg Oxytetracycline nguyên chất có trong Y ml thuốc nước thương phẩm?

 Y (ml) =[(Lượng thuốc nguyên chất cho con lợn (Xmg)] x [Lượng thuốc nước thương phẩm (ml) ghị trên nhãn]/ lượng thuốc nguyên chất (mg) trong lượng thuốc nước thương phẩm ghi trên nhãn

Bước 5: Lượng Oxytetracycline dạng thuốc nước thương phẩm cần dùng cho con lợn trong cả liệu trình (5 ngày) là:

Lượng thuốc nước thương phẩm cho con lợn trong 1 ngày (Y ml) x Số ngày của liệu trình điều trị.

6 ml x 5 ngày =30 ml

6.5. Những điều cần lưu ý khi bảo quản và sử dụng thuốc

Thuốc là sản phẩm sinh học hoặc hoá chất nên phải bảo quản và sử dụng một cách thích hợp theo những hướng dẫn sau đây:

* Tránh ánh nắng chiếu trực tiếp

* Nên để nơi khô ráo và râm mát hoặc trong tủ lạnh

* Trước khi sử dụng phải đọc kỹ nhãn thuốc và hướng dẫn

* Không dùng thuốc đã quá hạn sử dụng

* Chỉ sử dụng thuốc còn nguyên bao bì, nhãn mác

* Không vứt bừa bãi vỏ lọ thuốc, kim tiêm và xy ranh đã sử dụng

* Để thuốc tránh xa tầm tay với của trẻ em

6.6. Chọn kháng sinh để điều trị dựa theo triệu chứng bệnh

Khi gia súc bị ốm thì cần phải điều trị sớm để tránh thiệt hại. Trước hết hãy luôn luôn nhờ bác sĩ thú y kiểm tra. Trong một số trường hợp vật nuôi bị ốm nhưng khó xác định chính xác bệnh, khi đó có thể điều trị sớm bằng cách dựa vào các triệu chứng.

Thí dụ như sau:

* Khi vật nuôi có triệu chứng chủ yếu ở đường hô hấp

Chọn một trong các loại kháng sinh sau: Oxytetracycline hoặc Pen -strep hoặc Tylosin

* Khi vật nuôi có triệu chứng chủ yếu ở đường tiêu hoá

Sử dụng một trong các loại kháng sinh sau: Ampicilline hoặc Colistine hoặc hỗn hợp Trimethoprim vµ Sulfamid hoÆc Pen-Strep.

 

 

Cải thiện các hệ thống thức ăn cho lợn thông qua việc sử dụng khoai lang và những nguồn thức ăn địa phương khác ở Việt Nam

Theo www.vcn.vnn.vn
Lên đầu trang
 
Users browsing this topic Guestnew0

Bạn không thể gửi các chủ đề mới trong diễn đàn này.
Bạn không thể trả lời các chủ đề trong diễn đàn này.
Bạn không thể xóa các bài bạn gửi trong diễn đàn này.
Bạn không thể sửa các bài bạn gửi trong diễn đàn này.
Bạn không thể thăm dò ý kiến trong diễn đàn này.
Bạn không thể biểu quyết các thăm dò ý kiến trong diễn đàn này.

Trang chủ diễn đàn RSS : RSS

YAFVision Theme Created by Jaben Cargman (Tiny Gecko)

Copyright © 2003-2006 Yet Another Forum.net. All rights reserved.
Thời gian hiển thị trang là 3.487 giây.