Xin chào bạn ! Tìm kiếm | Các chủ đề | Các thành viên | Đăng nhập | Đăng ký

Một số bệnh của Cá Tra và Basa trong nuôi bè và biện pháp phòng trị Các tùy chọn
manhlinh
Đã gửi bài: Thursday, May 14, 2009 2:48:15 PM
Xếp loại: Thành viên cao cấp
Thuộc nhóm: Thành viên

Ngày đăng ký: 3/10/2009
Số bài gửi: 181
Số điểm: -236

MỘT SỐ BỆNH CỦA CÁ TRA VÀ BASA TRONG NUÔI BÈ VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

Nuôi cá bè là một trong những kỹ thuật nuôi thâm canh có hiệu quả. Nhưng do nuôi mật độ cao và cung cấp một lượng lớn thức ăn, nên dẫn đến môi trường trong bè và xung quanh dễ dàng bị ô nhiễm và là điều kiện để bệnh cá bộc phát, lây lan gây thiệt hại cho người nuôi. Theo điều tra hàng năm ở khu vực nuôi cá bè Đồng bằng Sông Cửu Long, tỷ lệ hao hụt, mà chủ yếu do bệnh cá gây chết ở cá basa nuôi bè là 15%, có khi lên tới 30-40%.

I. Nguyên nhân gây bệnh cho cá nuôi trong bè

1. Các bệnh không truyền nhiễm

Bệnh do môi trường gây ra

Cá basa nhạy cảm với những biến đổi của môi trường, do đó vào các tháng 1-2 khi nhiệt độ hạ thấp đột ngột, làm cho cá kém ăn hoặc bỏ ăn, dẫn đến cá suy dinh dưỡng và dễ nhiễm bệnh gây chết ở các tháng sau đó. Vào tháng 4-5, nhiệt độ lên cao (có ngày tới 31-32oC) cũng dễ làm cho cá nhiễm bệnh, đặc biệt xuất huyết đường ruột gây chết hàng loạt.

Cá basa dễ bị chết ngạt do thiếu oxy ở những thời gian nước đứng (đặc biệt từ giữa đến cuối mùa khô), khi thiếu oxy, cá thường bơi nhào lên, làm cho cá dễ bị lộn ruột và chết. Cá có thể chết do nước có nhiều khí độc như H2S, CH4, NH3... hoặc CO2 quá cao, nước nhiễm phèn, nước thải công nghiệp có độc tố, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ...

Ngoài ra, thức ăn và vấn đề cho ăn cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của cá. Nếu nguyên liệu chế biến thức ăn để quá lâu (như bột cá để lâu quá sẽ bị hư, mốc và nấm độc phát triển, cá tạp bị ươn thối, cám gạo bị mốc...) sẽ có nguy cơ gây độc cho cá. Thức ăn không đủ hàm lượng đạm sẽ làm cá tăng trưởng chậm và dễ nhiễm bệnh. Thiếu vitamin sẽ làm sức tăng trưởng giảm, cá bị co giật.

2. Các bệnh truyền nhiễm

Gồm có nhiều tác nhân gây bệnh cho cá như vi khuẩn, virus và ký sinh trùng. Bệnh cá bè hầu như xuất hiện quanh năm, tuy nhiên cũng có một số bệnh xuất hiện theo mùa rõ rệt như bệnh viêm ruột gây chết cá basa vào các tháng đầu năm, bệnh đốm đỏ, đốm trắng xuất hiện nhiều vào các thời điểm giao mùa (tháng 2-3 và 5-6), bệnh nhiễm giun tròn xuất hiện ở tất cả các tháng trong năm.

II. Biện pháp phòng trị một số bệnh phổ biến

1. Bệnh đốm đỏ

Xuất hiện vào lúc giao mùa, nhiễm trên cả cá tra, basa và nhiều loại cá khác. Bệnh gây ra do một số loài vi khuẩn như Aeromonas hydrophila và Pseudomonas fluoresen. Cá bị bệnh thường bơi lờ đờ trên mặt nước, trên thân xuất hiện điểm xuất huyết nhỏ li ti, nếu bệnh nặng thì các gốc vây cũng xuất huyết. Bụng cá trương to, thành ruột xuất huyết, cá ít ăn hoặc bỏ ăn. Các tia vây lưng, hậu môn và vây đuôi bị rách xơ xác.

Cách phòng trị:

Nếu cá còn ăn được thức ăn thì trộn thuốc vào thức ăn như sau:

Oxytetracyclin 2 gam + Vitamin C, 3g/100 kg cá.

Cho cá ăn liên tục 5-7 ngày, lưu ý thức ăn trộn thuốc nên giảm đi một nửa.

2. Bệnh trắng da (hay bệnh mất nhớt)

Bệnh dễ xuất hiện, khi cá bị xây xát, hoặc bị sốc do đánh bắt, vận chuyển hoặc do nhiệt độ môi trường nước thay đổi đột ngột. Tác nhân gây bệnh là do vi khuẩn Flexibacter columnaris.

Cá nhiễm bệnh thường bỏ ăn, yếu dần, gốc vây lưng xuất hiện màu trắng, lan dần đến cuống đuôi và toàn thân. Bệnh nặng thường xuất hiện các vết loét ăn sâu vào cơ. Vây cá rách xơ xác cá bơi yếu rồi chìm xuống đáy và chết.

Cách phòng trị:

Trộn vào thức ăn Oxytetracycline 5g/100kg cá bệnh, hoặc Sulfadimezin 5g + Oxytetracycline 2g/100kg cá. Cho cá ăn liên tục 5-7 ngày.

3. Bệnh xuất huyết đường ruột:

Bệnh xuất hiện vào các tháng mùa khô, khi nhiệt độ cao gây cho cá bị xuất huyết nội tạng (chủ yếu ở cá basa) và gây thiệt hại lớn cho nghề nuôi cá basa. Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Staphylococcus sp.

Cá bị bệnh thì bụng bị trương to, hậu môn lồi, sưng đỏ, vây bụng xuất huyết, cá biếng ăn, bơi tách đàn. Khi giải phẫu nội tạng thấy đường ruột bị xuất huyết, cơ xoang bụng cũng bị xuất huyết, đôi khi mỡ cũng có màu hồng.

Để phòng bệnh, nhiều chủ bè đã dùng cây cỏ mực băm nhỏ, nấu chung với thức ăn, đã phòng bệnh cho cá vào đầu mùa khô rất tốt. Lượng dùng: 1kg cỏ mực + 0,5kg muối + 70kg cám. Cứ cách 1 tuần cho ăn 1 lần.

Cách trị bệnh:

Dùng Sulfathiazone 6g + Thiromin 0,5g/100kg cá bệnh.

Hoặc Sulfaguanin 5-10g + 70kg cám/100kg cá bệnh, cho ăn đến ngày thứ 3 thì giảm đi 1/2 liều, đến ngày thứ 5 cá sẽ hết bệnh.

4. Bệnh do ký sinh trùng

4.1. Bệnh giun tròn: do tác nhân thuộc giống Philometra ký sinh trong ruột cá. Chúng không gây thành dịch lớn, nhưng ảnh hưởng đến sức tăng trưởng của cá, phá hoại niêm mạc ruột và gây viêm ruột, đôi khi tắc ruột, thủng ruột hoặc tắc ống dẫn mật.

Các xổ giun: dùng Dipterex 8-10g/100kg cá bệnh, trộn vào thức ăn.

4.2. Bệnh sán lá 16 móc (Dactylogyrus): là loài sán có kích thước cơ thể dài 0,5-1mm, thường ký sinh trên mang cá tra và basa. Chúng bám chặt vào mang và niêm mạc của mang để hút máu, gây viêm loét mang cá.

Cách phòng trị: treo giỏ thuốc Sulfat đồng (CuSO4) 5-7ppm (1g/m3 nước) hoặc Dipterex 1-5ppm ở đầu bè.

Nguồn: Kỹ thuật nuôi cá tra và basa trong bè

Users browsing this topic
Guestnew0


Bạn không thể gửi các chủ đề mới trong diễn đàn này.
Bạn không thể trả lời các chủ đề trong diễn đàn này.
Bạn không thể xóa các bài bạn gửi trong diễn đàn này.
Bạn không thể sửa các bài bạn gửi trong diễn đàn này.
Bạn không thể thăm dò ý kiến trong diễn đàn này.
Bạn không thể biểu quyết các thăm dò ý kiến trong diễn đàn này.

Trang chủ diễn đàn RSS : RSS

YAFVision Theme Created by Jaben Cargman (Tiny Gecko)

Copyright © 2003-2006 Yet Another Forum.net. All rights reserved.
Thời gian hiển thị trang là 2.081 giây.